Sơ lược về thư tín Rô ma
Bối cảnh và tác giả sách Rô ma:
Câu hỏi:
1/ Khi gởi thư cho các tín hữu Rô ma, Phao lô đã có đến đó chưa?
Vì sao Phao lô dặn các tín hữu phải đối xử tử tế với người mang thư đến? Người đó là ai?
2/ Lý do chính mà Phao lô viết thư Rô ma? Thư Rô ma khác với các thư tín khác ở điểm nào?
Phao lô đưa ra một giải pháp duy nhất có thể hàn gắn sự chia rẽ giữa các tín hữu ở Rô ma là gì?
3/ Thư Rô ma có dễ hiểu không? Theo các học giả, trước nhất, người đọc thư Rô ma cần hiểu gì?
Bạn có được thôi thúc để tìm hiểu thư tín Rô ma, một tuyệt tác phẩm của Phao lô không?
Bối cảnh và tác giả sách Rô ma:
Hầu như tất cả mọi người đều đồng ý rằng Phao-lô đã viết thư Rô-ma khi đang trú đông tại thành phố Cô-rinh-tô trong chuyến hành trình truyền giáo thứ ba của mình, như được ghi lại trong sách Công vụ 20:2-3.
"Khi sự rối loạn yên rồi Phao-lô vời các môn đồ đến, khuyên bảo xong, thì từ giã mà đi đến xứ Ma-xê-đoan. 2 Người trải khắp trong miền này, dùng nhiều lời khuyên bảo các tín đồ; rồi tới nước Gờ-réc, 3 ở đó ba tháng."
Kết luận này dựa trên các đoạn Rô-ma 16:1, 16:23 và 1 Cô-rinh-tô 1:14. Nhiều nhà giải kinh đưa ra các mốc thời gian khác nhau cho việc viết bức thư này, dao động trong khoảng từ năm 53 đến năm 58 sau Công nguyên. ông đọc cho một thư ký tên là Téc-ti-u (Tacitus) chép lại trong thời gian ông đang ở Cô-rinh-tô.
Tacitus, một nhà sử học, đã gọi những Kitô hữu bị bách hại dưới thời Nero vào năm 64 sau Công nguyên là "một đám đông khổng lồ".
Khi Phao-lô định đi đến Rô-ma, Đức Thánh Linh đã cảnh báo ông về những hiểm nguy đang chờ đợi ông tại Giê-ru-sa-lem (Công vụ các Sứ đồ 21:10-14). Nếu chẳng may ông không thể đến được Rô-ma thì sao? Khi đó, ông cần viết cho họ một lá thư thật đầy đủ và chi tiết, để các tín hữu tại Rô-ma vẫn có thể tiếp nhận Tin Lành mà ông rao giảng, ngay cả khi chính ông không thể đến thăm họ.
Thư Rô ma là tác phẩm thần học dài nhất và toàn diện nhất của Phao lô, trước khi ông từng đặt chân đến thành phố này. Các mục tiêu trong sách Rô ma là giải quyết những mâu thuẫn sâu sắc giữa các tín hữu gốc Do Thái và các tín hữu gốc Dân Ngoại không phải người Do Thái tại Rô-ma. Phao lô mong muốn hàn gắn sự chia rẽ trong hội thánh bằng cách nhấn mạnh rằng sự cứu rỗi là món quà đến từ ân điển của Đức Chúa Trời, dành cho tất cả mọi người thông qua đức tin nơi Chúa Giê-xu Christ.
Chính vì những lý do này, thư Rô-ma mang nét khác biệt so với nhiều lá thư khác mà Phao-lô đã viết cho các hội thánh. Các lá thư khác trong Tân Ước thường tập trung nhiều hơn vào hội thánh cùng những thách thức và vấn đề mà hội thánh phải đối mặt; trong khi đó, thư Rô-ma lại tập trung nhiều hơn vào Đức Chúa Trời và chương trình cứu chuộc vĩ đại của Ngài.
Thư gửi tín hữu Rô-ma rất được các tín hữu tại Rô-ma trân trọng; Người ta tìm thấy trong một bức thư của Clement thành Rome, là một nhà lãnh đạo Kitô giáo thời sơ khai, và là một trong những "Giáo phụ Tông truyền" đầu tiên. Clement viết vào năm 96 SCN cho thấy ông rất am tường thư của Phao-lô. Có thể ông đã thuộc lòng bức thư này và việc đọc thư đã trở thành một phần trong hầu hết các buổi nhóm họp của hội thánh tại Rô-ma. Ngoài ra, nhiều học giả tin rằng một phiên bản đã được biên tập lại của thư Rô-ma, lược bỏ các chi tiết mang tính cá nhân ở chương 16 – đã được phổ biến rộng rãi giữa các hội thánh thời sơ khai như một bản tóm tắt giáo lý của các sứ đồ.
Trong thư Rô ma, Phao lô cũng giới thiệu bản thân, tìm kiếm sự ủng hộ cho chuyến hành trình truyền giáo dự kiến đến Tây Ban Nha, vì khi viết thư nầy, Phao lô chưa trù liệu rằng mình sẽ bị giam giữ.
Hội thánh tại Rô-ma đã được thành lập ngay sau ngày lễ ngũ tuần, những người quê ở Rô ma và người Do thái cư ngụ ở Rô ma, được Đức Thánh Linh cảm động khi nghe bài giảng của Phi e rơ, họ tin nhận Chúa, Hội thánh Rô ma không do Phao lô đến truyền giáo, nhưng do bàn tay Chúa, con số Tin hữu ở Rô ma rất đông, Phao lô không ở Rô ma từ ban đầu, nhưng đó là nơi ông sống cho tới cuối đời.
Cuộc khủng hoảng của Hội thánh Rô ma bắt đầu khi Hoàng đế La Mã Claudius ra lệnh trục xuất toàn bộ người Do Thái khỏi Rô-ma, chỉ còn lại các tín đồ người ngoại tin Chúa Giê su mà thôi.
Khoảng năm năm sau, khi những người Do Thái tin theo Chúa Giê-su, được phép quay trở lại, cùng với nhiều người Do Thái khác, thì họ nhận thấy Hội thánh đã mang những tập tục và nếp sinh hoạt không còn mang đậm nét Do Thái giáo nữa, họ chỉ trích nhau, sự xung đột văn hóa này đã gây ra nhiều căng thẳng, đến thời của Phao-lô, hội thánh tại Rô-ma đã bị chia rẽ sâu đậm.
Họ bất đồng về cách thức bước theo Chúa Giê-su, tranh luận xem liệu các tín hữu không phải người Do Thái có cần giữ ngày Sa-bát, tuân thủ luật ăn uống (kosher), chịu phép cắt bì hay không, và nhiều vấn đề khác nữa.
Phao-lô viết bức thư Rô ma với mong muốn cộng đồng tin Chúa Giê su đang bị chia rẽ này được hiệp nhất trở lại.
Xét về mặt thực tiễn, ông hy vọng hội thánh tại Rô-ma có thể trở thành điểm xuất phát cho hành trình truyền giáo của mình vươn xa hơn về phía tây, tới tận Tây Ban Nha. Chính những hoàn cảnh đầy căng thẳng này đã thôi thúc Phao-lô trình bày một cách trọn vẹn nhất về Tin Lành, tức tin mừng loan báo về cuộc đời, sự chết và sự phục sinh của Chúa Giê-su.
Sách Rô ma có thể chia ra bốn phân đoạn liền mạch và tuôn chảy:
** Bày tỏ sự công chính của Đức Chúa Trời (Rô-ma 1–4),
**Tạo nên một nhân loại mới” (Rô-ma 5–8)
***Hoàn tất lời hứa của Đức Chúa Trời dành cho dân Y-sơ-ra-ên” (Rô-ma 9–11).
*** Duy nhất Tin Lành mới có thể “gắn kết Hội Thánh” (Rô-ma 12–16).
Chính vì bức thư đầy sự cảm động, thông sáng nầy mà Phao lô được các tín hữu ở Rô ma tiếp đón vô cùng long trọng như đã nói trong cuối sách Công vụ các sứ đồ.
Trước khi đọc thư Rô ma, sẽ có ích lợi khi chúng ta hiểu vài chi tiết về Rô ma:
*** Bức thư Rô ma được một người phụ nữ chuyển đi, Kinh Thánh cho thấy Phao-lô đã giao bức thư gửi tín hữu tại Rô-ma cho một phụ nữ tên là Phê-bê một nữ chấp sự đến từ thành phố cảng Cenchreae gần đó. Rô ma 16: 1 &2
" Tôi gởi gắm Phê-bê, người chị em chúng ta cho anh em, người làm nữ chấp sự của Hội thánh Xen-cơ-rê. 2 Hãy ân cần tiếp rước người trong Chúa chúng ta, một cách xứng đáng với thánh đồ, và hãy giúp đỡ người trong mọi dịp mà người sẽ cần đến anh em; vì chính người đã giúp nhiều kẻ, và cũng giúp tôi nữa."
*** Hội thánh ở Rô ma do các tín hữu Cơ Đốc gốc Do Thái thành lập; họ là những người từng đến Giê-ru-sa-lem vào dịp Lễ Ngũ Tuần và mang Tin Lành trở về Ý.
*** Trong thư Rô ma, bốn từ sau đây xuất hiện ít nhất sáu mươi lần: • Sự công chính • Đức tin • Tội lỗi • Luật pháp
Phải nhìn nhận rằng, thư Rô ma không dễ hiểu, vì tác giả đã lồng vào đó nhiều ý tưởng về thần học, nếu một người có lòng tìm cầu ý Chúa thì thư Rô ma làm cho người ấy được thoả mãn trong tâm linh, nhưng nếu người đọc không hiểu ý Phao lô muốn nói gì, thì sẽ gây ra những cách giải thích sai lạc.
Chính sứ đồ Phi e rơ cũng có đề cập tới vấn đề nầy trong II Phi e rơ 3: 15 &16:
" Lại phải nhìn biết rằng sự nhịn nhục lâu dài của Chúa chúng ta cốt vì cứu chuộc anh em, cũng như Phao lô, anh rất yêu dấu của chúng ta, đã đem sự khôn ngoan được ban cho mình mà viết thơ cho anh em vậy. 16 Ấy là điều người đã viết trong mọi bức thơ, nói về những sự đó, ở trong có mấy khúc khó hiểu, mà những kẻ dốt nát và tin không quyết đem giải sai ý nghĩa, cũng như họ giải sai về các phần Kinh Thánh khác, chuốc lấy sự hư mất riêng về mình."
Tyndale, một học giả hàng đầu trong việc cải cách giáo hội (1494–1536) đã viết như sau:
“Trước hết, chúng ta phải chú tâm kỹ lưỡng đến cách diễn đạt của vị sứ đồ, và trên hết là phải hiểu rõ ý nghĩa mà Phao-lô muốn truyền tải qua những từ ngữ như: Luật pháp, Tội lỗi, Ân điển, Đức tin, Sự công chính, Xác thịt, Thánh Linh, và những từ tương tự; bằng không, dù bạn có đọc đi đọc lại bao nhiêu lần chăng nữa, thì mọi công sức ấy cũng chỉ là uổng phí mà thôi.”
Hy vọng Thư tín Rô ma sẽ làm cho quý anh chị em đạt được một bước tiến mới trong hiểu biết về chương trình Cứu rỗi của Đức Chúa Trời chúng ta.