Rô ma 1: "Tôi rao giảng một Tin lành có quyền phép !"

**Dân Tộc Việt **Các Phương Tiện zoom

"Phao-lô, làm sứ đồ, chẳng phải bởi loài người, cũng không nhờ một người nào, bèn là bởi Đức Chúa Jêsus Christ và Đức Chúa Trời, tức là Cha, Đấng đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại," Ga la ti 1:1

Rô ma 1: "Tôi rao giảng một Tin lành có quyền phép !"

 

Đọc Rô ma 1: 1 - 17

Câu hỏi:

 

1/ Có bốn luận điểm chính mà Phao lô đề cập đến trong Tin lành, đó là gì?

 

2/ Tại sao Tin lành có quyền phép? Các phương thức cứu rỗi khác có quyền phép không?

 

3/ Một người Tin nhận Chúa Giê su có phải là người thánh khiết hoàn toàn để được xưng công nghĩa không?

 


     "Tôi rao giảng một Tin lành có quyền phép !"

 

*** Lá thư gởi cho Hội Thánh Rô ma -Phao lô tự giới thiệu mình là sứ đồ: câu 1

" Phao-lô, tôi tớ Đức Chúa Jêsus Christ, được gọi làm sứ đồ, để riêng ra đặng giảng Tin Lành Đức Chúa Trời,"


   Chương 1 sách Rô-ma mở đầu cho bức thư của Sứ đồ Phao-lô gửi đến hội thánh tại Rô-ma. Chương này xác định sứ mệnh cốt lõi: rao giảng Tin Lành của Chúa Giê-xu Christ và quyền năng của Đức Chúa Trời, để cứu rỗi bất cứ ai tin nhận Ngài. Đồng thời, chương này cũng khẳng định rằng nhân loại đã quay lưng lại với Đức Chúa Trời, dẫn đến tình trạng tội lỗi bao trùm, sự chia cắt với Chúa và sự phán xét của Ngài.

  Mở đầu bức thư, Phao lô tự xác định danh tính của mình, trước hết, ông là đầy tớ của Chúa Giê-xu Christ, và kế đến, ông được kêu gọi để trở thành một sứ đồ.
Trong tiếng Hy Lạp cổ có nhiều từ dùng để chỉ nô lệ, nhưng ý nghĩa đằng sau từ "đầy tớ" (*doulos*) ở đây là sự tận hiến trọn vẹn và tuyệt đối, chứ không phải sự hèn hạ vốn là thân phận thường thấy của nô lệ.

       Tước hiệu đầy tớ của Chúa Giê-xu Christ còn là một tước hiệu cao quý hơn cả việc làm vua một nước.
Phao lô nói, ông được biệt riêng ra cho Tin Lành của Đức Chúa Trời, có nghĩa, ông là sứ giả đặc biệt của Ngài, một sứ giả truyền rao Tin Lành của Ngài mà thôi.
Mọi vấn đề Phao-lô đề cập trong thư này đều được ông gắn kết với Đức Chúa Trời. Khi nỗ lực tìm hiểu những gì vị sứ đồ nói về sự công chính, sự xưng công bình và các vấn đề tương tự, chúng ta không nên bỏ qua việc ông dành sự chú tâm đặc biệt cho Đức Chúa Trời.

Từ “Đức Chúa Trời” xuất hiện 153 lần trong thư Rô-ma; trung bình cứ 46 từ lại có một lần xuất hiện, thư Rô-ma đề cập đến nhiều chủ đề khác nhau, nhưng xét ở mức độ cao nhất có thể đối với một cuốn sách, thì đây chính là cuốn sách nói về Đức Chúa Trời.

 

*** Phao lô giới thiệu Tin lành mà ông đang là sứ giả, đến với người ở thành Rô ma: câu 2 - 6

" là Tin Lành xưa kia Đức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên tri Ngài mà hứa trong Kinh Thánh, 3 về Con Ngài, theo xác thịt thì bởi dòng dõi vua Đa-vít sanh ra, 4 theo thần linh của thánh đức, thì bởi sự sống lại của Ngài từ trong kẻ chết, được tỏ ra là Con Đức Chúa Trời có quyền phép, tức là Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta, 5 nhờ Ngài chúng ta đã nhận lãnh ân điển và chức sứ đồ, để đem mọi dân ngoại đến sự vâng phục của đức tin, vì danh Ngài, 6 trong các dân ấy anh em cũng đã được gọi bởi Đức Chúa Jêsus Christ;"

 

Phao lô cho biết Tin lành nầy không phải là một giáo lý mới mẻ, cũng chẳng phải là sản phẩm do con người khéo léo tạo ra. Nhưng là một điều vốn đã có từ rất lâu trong chương trình của Đức Chúa Trời. Phao lô nhắc đến hai chữ " Con Ngài" tức Chúa Giê su, trọng tâm của Tin lành, là "mặt trời" mà mọi sự khác đều xoay quanh.

    Trọng tâm của Cơ Đốc giáo không phải là một hệ thống giáo lý hay quy tắc đạo đức, mà là một Ngôi Vị: Đức Chúa Jêsus Christ.

Chúa Giê-xu vừa có nguồn gốc trong nhân loại, sinh ra từ dòng dõi Đa-vít theo xác thịt, vừa có sự hiện hữu vĩnh cửu, được công nhận là Con Đức Chúa Trời.


*** Bằng chứng về nhân tính của Chúa Giê-xu là sự giáng sinh làm người của Ngài; bằng chứng về thần tính của Ngài là sự sống lại từ cõi chết.


  Chúa Giê su đã sống lại nhờ chính quyền năng của mình: "Hãy phá đền thờ này đi, trong ba ngày Ta sẽ dựng nó lại" (Giăng 2:19).


  Phao lô nói: vì đó, mà Chúa Giê su được công bố là " Con Đức Chúa Trời có quyền phép" nhờ Ngài, chúng tôi đã nhận lãnh ân điển và chức sứ đồ để đem mọi dân tộc đến sự vâng phục bởi đức tin trong danh Ngài. Trong số đó, anh em ở Rô ma cũng là những người được Chúa Giê-xu Christ kêu gọi.

*** Ước muốn của Phao lô được đến thành Rô ma: câu 7 -15

" Gởi cho hết thảy những người yêu dấu của Đức Chúa Trời tại thành Rô-ma, được gọi làm thánh đồ. Nguyền cho anh em được ân điển và sự bình an từ nơi Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và từ nơi Đức Chúa Jêsus Christ! 8 Trước hết, tôi nhờ Đức Chúa Jêsus Christ, vì hết thảy anh em mà tạ ơn Đức Chúa Trời tôi về đức tin anh em đã đồn khắp cả thế gian. 9 Vì Đức Chúa Trời mà tôi lấy tâm thần hầu việc, bởi sự giảng Tin Lành của Con Ngài, làm chứng cho tôi rằng tôi nhắc đến anh em không thôi 10 trong mọi khi tôi cầu nguyện thường xin Đức Chúa Trời, bởi ý muốn Ngài, sau lại có thể gặp dịp tiện đi đến nơi anh em. 11 Thật vậy, tôi rất mong mỏi đến thăm anh em, đặng thông đồng sự ban cho thiêng liêng cùng anh em, hầu cho anh em được vững vàng, 12 tức là tôi ở giữa anh em, để chúng ta cùng nhau giục lòng mạnh mẽ bởi đức tin chung của chúng ta, nghĩa là của anh em và của tôi. 13 Vả, hỡi anh em, tôi chẳng muốn anh em không biết rằng đã bao phen tôi toan đi thăm anh em, đặng hái trái trong anh em cũng như trong dân ngoại khác; song về sự đó tôi bị ngăn trở cho đến bây giờ. 14 Tôi mắc nợ cả người Gờ-réc lẫn người dã man, cả người thông thái lẫn người ngu dốt. 15 Ấy vậy, hễ thuộc về tôi, thì tôi cũng sẵn lòng rao Tin Lành cho anh em, là người ở thành Rô-ma."

 

**Gửi tất cả những ai đang ở tại Rô-ma:


  Phao-lô chưa từng đến Rô-ma, và ông không phải là người thành lập hội thánh tại đây. Điều này khiến thư Rô-ma trở nên khác biệt, bởi vì phần lớn các thư tín của Phao-lô được gửi đến những hội thánh do chính ông thành lập. Có vẻ như hội thánh tại Rô-ma đã hình thành một cách tự phát khi các tín hữu Cơ Đốc đến và định cư tại thành phố lớn này của Đế quốc La mã. Ngoài ra, cũng không có bằng chứng nào trong Kinh Thánh hay sử liệu, cho thấy Sứ đồ Phi-e-rơ là người thành lập hội thánh tại Rô-ma.


  Ngoài chi tiết có người ở Rô ma đến trong ngày lễ Ngủ Tuần thì nguồn gốc của hội thánh tại Rô-ma có phần không rõ ràng, nhưng các tín hữu Cơ Đốc vẫn liên tục di cư đến Rô-ma từ khắp nơi trong Đế quốc. Không có gì đáng ngạc nhiên khi một hội thánh được hình thành tại đó một cách tự phát mà không phải do một sứ đồ trực tiếp thành lập.

Dù vậy, thông qua những người quen của mình, Phao-lô biết tên nhiều Cơ-đốc nhân tại Rô-ma, vì ông đã nhắc đến họ trong thư Rô-ma chương 16. Ngay cả khi Phao-lô chỉ quen biết họ ở mức độ xã giao, ông vẫn hiểu rõ hai điều về họ cũng như về mọi Cơ-đốc nhân chân chính:

 Họ là những người được Đức Chúa Trời yêu dấu và là các thánh đồ. Những tín hữu tại Rô-ma này là những người ‘được gọi là thánh đồ.

 Nguyện xin ân điển và bình an đến với anh em từ Đức Chúa Trời:


   Phao-lô trang trọng gửi lời chào quen thuộc đến các Tín hữu, kết hợp lời chào "Ân điển" ( Grace) của người Hy Lạp với lời chào "Bình an" (Shalom) của người Do Thái. Ân điển và Bình an này không phải là lời chúc thiện chí của một con người; đó là những món quà đến từ Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và Chúa Giê-xu Christ.


** Tôi tạ ơn Đức Chúa Trời về tất cả anh em, vì đức tin của anh em được đồn đại khắp thế giới:


  Phao-lô bày tỏ lòng biết ơn về danh tiếng tốt đẹp của hội thánh tại Rô-ma. Nhờ vị trí địa lý thuận lợi, hội thánh này có tầm ảnh hưởng đặc biệt và cơ hội để tôn vinh Chúa Giê-xu trên khắp Đế quốc.
Bởi sự thôi thúc của Đức Chúa Trời trong khi cầu nguyện, Phao lô luôn nhắc đến anh em ở Rô ma không ngừng. Phao lô muốn các tín hữu tại Rô-ma biết rằng ông cầu nguyện cho họ, ông cầu xin một cơ hội để đến thăm họ, theo ý muốn của Đức Chúa Trời.

   Phao lô muốn cùng chung chia sẻ và ước ao được nâng đỡ đức tin của họ, giúp họ được mạnh mẻ, có lẽ, Phao lô đau lòng khi nghe người ta kể lại rằng, các tín hữu ở Rô ma đang chịu sự ghét bỏ, vu khống trong xã hội. Các Cơ Đốc nhân tại Rô-ma bị coi là ‘kẻ thù của nhân loại’ và bị gán cho những điều xấu xa như loạn luân và ăn thịt người. Do đó, rất nhiều người trong số họ đã trở thành nạn nhân của sự ác độc từ phía đế chế. Chính cuộc bách hại Cơ Đốc nhân dưới thời Nê-rô này được xem là bối cảnh mở đầu cho sự tử đạo của Phao-lô.

  Sự cầu nguyện của Phao lô hẳn đã giúp ích cho người ở Rô ma, dù Phao lô chưa thể đến với họ. Một số hội thánh hẳn sẽ phát triển tốt hơn nếu một, hai hay ba người trong anh em nhớ đến họ nhiều hơn trong sự cầu nguyện.

  Mong muốn đến thăm hội thánh tại Rô-ma của Phao-lô không chỉ nhằm mục đích ban cho họ điều gì đó, mà còn để nhận lại, bởi vì Phao-lô nhận thấy rằng, trong đức tin chung, họ cũng có những điều để ban cho ông.
Trong một thời gian dài, Phao-lô đã muốn đến thăm Rô-ma nhưng bị ngăn trở bởi những hoàn cảnh khách quan.
Phao lô cho rằng "Tôi mắc nợ cả người Gờ-réc lẫn người dã man, cả người thông thái lẫn người ngu dốt." Người dã man ở đây dịch không đúng nghĩa, đó là từ "barbarians" như chúng ta đã biết trong đoạn cuối sách Công vụ, người ở Malta là người barbarians, có nghĩa không phải người Hy lạp mà thôi.
Phao lô tuyên bố quan niệm của ông về Tin lành, cũng là điều đáng phải có của người rao giảng Tin lành trong sách Ga la ti 3: 26 -29

" Vì chưng anh em bởi tin Đức Chúa Jêsus Christ, nên hết thảy đều là con trai của Đức Chúa Trời. 27 Vả, anh em thảy đều chịu phép báp tem trong Đấng Christ, đều mặc lấy Đấng Christ vậy. 28 Tại đây không còn chia ra người Giu-đa hoặc người Gờ-réc; không còn người tôi mọi hoặc người tự chủ; không còn đàn ông hoặc đàn bà; vì trong Đức Chúa Jêsus Christ, anh em thảy đều làm một. 29 Lại nếu anh em thuộc về Đấng Christ, thì anh em là dòng dõi của Áp-ra-ham, tức là kẻ kế tự theo lời hứa."

  Dù Do Thái đang ở dưới ách cai trị của La mã, nhưng Phao lô vẫn sẳn lòng đem Tin lành đến cho họ, dù người La mã có bạc đãi các Tín hữu, nhưng hễ ai chấp nhận Chúa Giê su thì Phao lô cũng sẽ đến với họ. Phao-lô đã tận dụng tất cả những điều này để lan truyền Tin Lành, vì xem là món nợ, cách tốt nhất để ông đền đáp là mang Tin Lành về Chúa Giê-xu Christ đến cho Rô-ma.

Phao-lô là một nhà truyền giáo không biết mệt mỏi; ông hoạt động khắp nơi trên thế giới vì tin rằng mình có một món nợ phải trả, và ông mang món nợ đó đối với toàn thế giới. Tất cả những điều cần thiết cho một người được gọi là sứ giả của Tin lành thì Phao lô đều có:

  Phao-lô sẵn sàng rao giảng và phục vụ (Rô-ma 1:15).
· Phao-lô sẵn sàng chịu khổ (Công vụ 21:13).
· Phao-lô sẵn sàng làm những công việc không dễ chịu (2 Cô-rinh-tô 10:6).
· Phao-lô sẵn sàng chịu chết (2 Ti-mô-thê 4:6).

*** Giới thiệu một Tin lành bởi Đức tin mà được cứu: câu 16 & 17

" Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin Lành đâu, vì là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin, trước là người Giu-đa, sau là người Gờ-réc; 17 vì trong Tin Lành nầy có bày tỏ sự công bình của Đức Chúa Trời, bởi đức tin mà được, lại dẫn đến đức tin nữa, như có chép rằng: Người công bình sẽ sống bởi đức tin. "

Sau phần mở đầu, Phao-lô trình bày bốn luận điểm chính cho bức thư gửi tín hữu tại Rô-ma.

1/ Tôi không hổ thẹn về Tin Lành:

Điều này bộc lộ tấm lòng của Phao-lô, tại một thành phố đầy vẻ tinh tế và hào nhoáng như Rô-ma, có người sẽ cảm thấy xấu hổ về một Tin Lành xoay quanh Đấng Cứu Thế người Do Thái đã chịu đóng đinh trên thập tự giá, chỉ được đón nhận bởi tầng lớp thấp kém nhất trong xã hội, nhưng Phao-lô xác quyết, ông không hề thấyhổ thẹn. Tin lành đó là chương trình vĩ đại của Đức Chúa Trời, dùng chính con Ngài để thực hiện sự cứu rỗi.

 

2/ Tin lành là quyền phép của Đức Chúa Trời:


Tin Lành chắc chắn là một tin tức tốt lành, nhưng Tin lành còn hơn cả thông tin đơn thuần; nó mang trong mình quyền năng nội tại. Tin lành hoàn toàn không giống như những tôn giáo khác, Tin Lành không phải là lời khuyên bảo con người tự vươn lên, chính Tin lành tự nó là quyền năng giải phóng con người và nâng họ lên. Phao-lô không nói rằng Tin Lành mang lại quyền năng, mà nói rằng chính Tin lành là quyền năng – và đó là quyền năng của Đức Chúa Trời.


  Công dân của thành Rome tưởng rằng mình thấu hiểu mọi điều về quyền lực: “Quyền lực là điều mà Rome tự hào nhất"
Mục sư Warren Wiersbe, người đã viết hơn 170 quyển sách và là giám đốc chương trình phát thanh Back to the Bible radio ministry đã viết:
" Hy Lạp có thể có triết học, nhưng Rome lại có quyền lực”
Dù sở hữu quyền lực to lớn đến đâu, người La Mã – cũng như mọi con người khác, đều bất lực trong việc tự làm cho mình trở nên công chính trước mặt Đức Chúa Trời. Triết gia cổ đại Seneca từng gọi Rome là “một hố rác của sự gian ác”, còn nhà văn cổ đại Juvenal thì ví nơi này như “một cống rãnh bẩn thỉu, nơi đổ về mọi thứ cặn bã của đế chế”.

3/ Tin Lành được đem đến cho mọi dân, mọi nước, bởi đức tin mà được:


  Vì Rô ma ở trong hố của tội lỗi nên trong thời Phao-lô, thế giới La Mã luôn tìm kiếm sự cứu rỗi. Các triết gia khác cũng nhận thức được rằng con người đang đau ốm trong tâm linh, cần được giúp đỡ.
Epictetus, một triết gia không theo Chúa Giê su, gọi giảng đường của mình là "bệnh viện dành cho những linh hồn đau ốm". Vài triết gia khác gọi giáo lý của mình là "phương thuốc cứu rỗi". Nhưng đó là phương pháp tạm bợ của con người.
Hầu hết các triết gia thời đó cho rằng, vì con người ý thức sâu sắc về "sự yếu đuối và bất lực của mình trong những miền sâu thẳm nhất của tâm linh", nên ai nấy đều hướng về "sự cứu rỗi". Epictetus nói rằng con người đang tìm kiếm một sự bình an "không đến từ sắc lệnh của Caesar, mà đến từ Đức Chúa Trời". Dù Epictetus tự gọi giảng đường mình là bênh viện thuộc linh, nhưng trong bệnh viện ấy vẫn không có phương thuốc để chữa lành.
 Phao lô, sứ giả của Đức Chúa Trời, mang đến một Tin Lành có quyền năng cứu rỗi, cứu được bất cứ ai tin nhận.

    Đức Chúa Trời không từ chối sự cứu rỗi đối với người có đức tin; và tin nhận chính là điều kiện duy nhất. Tin lành nầy được truyền rao ra trước hết cho người Do Thái, và sau đó cho người ngoại.


4 / Tin lành nầy cũng bày tỏ sự công chính của Đức Chúa Trời, người tin sẽ được xưng là công chính:


Những ai có đức tin qua Tin lành, sẽ được xem là công chính. qua đó ứng nghiệm lời trong Ha-ba-cúc 2:4:


" Nầy, lòng người kiêu ngạo, không có sự ngay thẳng trong nó; song người công bình thì sống bởi đức tin mình."


Phải hiểu chính xác sự công chính của Đức Chúa Trời được bày tỏ qua Tin Lành là gì. Nó không nói về sự công chính thánh khiết của Đức Chúa Trời, điều đó sẽ kết án kẻ có tội, nhưng nói về sự công chính thuộc về Đức Chúa Trời, được ban cho người tội lỗi đặt đức tin nơi Chúa Giê-xu Christ.

Học giả William Barclay giải thích ý nghĩa của từ Hy Lạp cổ *dikaioo* (có nghĩa là "tôi coi như được xưng công chính" và là gốc của từ *dikaioun*

Trong tiếng Hy Lạp, tất cả các động từ kết thúc bằng đuôi *-oo*... luôn mang nghĩa là đối xử với, coi như, hoặc xem như..
Khi Đức Chúa Trời xưng công chính cho một người tội lỗi, điều đó không có nghĩa là Ngài tìm lý do để chứng minh rằng người ấy đã hành động đúng. Hoàn toàn không phải vậy. Cũng không có nghĩa là Ngài biến lập tức người tội lỗi ấy thành một người tốt.


*** Nó có nghĩa là Đức Chúa Trời đối xử với người tội lỗi như thể người ấy chưa từng phạm tội.


Lời tuyên bố này càng trở nên vĩ đại hơn khi chúng ta hiểu rằng: đây là sự công chính của Đức Chúa Trời được ban cho người tin Chúa.
Đó không phải là sự công chính của một con người thánh khiết nhất, cũng không phải là sự công chính của A-đam vô tội trong vườn Ê-đen.
Đó chính là sự công chính của Đức Chúa Trời. Người được công chính sẽ sống bởi đức tin. Họ không chỉ được cứu bởi đức tin, mà còn sống bởi đức tin.

Giăng 3: 16 chép:

" Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời."