Rô ma 11: " Đức Chúa Trời không hề rời bỏ dân Ngài"
"Ta sẽ đem một phần ba ấy vào lửa, ta sẽ luyện nó như luyện bạc, thử nó như thử vàng; chúng nó sẽ kêu cầu danh ta, và ta sẽ nhậm lời nó; ta sẽ phán rằng: Ấy là dân ta đây. Và nó sẽ nói rằng: Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời tôi." Xa cha ri 13: 9
Rô ma 11: " Đức Chúa Trời không hề rời bỏ dân Ngài"
Câu hỏi:
1/ Đức Chúa Trời có thật sự rời bỏ dân Y sơ ra ên khi đa số họ không tin Chúa Giê su?
Cuối cùng Ngài có kế hoạch phục hồi họ không?
2/ Phao lô ví người ngoại như hình ảnh gì với cây Ô liu?
Ông khuyên người ngoại nên có thái độ gì?
3/ Điều mầu nhiệm mà Phao lô muốn tất cả các tín hữu biết trong đoạn nầy là gì?
Bạn có nghĩ rằng mình có thể góp phần gì trong ý tưởng của Đức Chúa Trời không?
hay chỉ ngợi khen khi thấy kết quả mà thôi?
" Đức Chúa Trời không hề rời bỏ dân Ngài"
*** Phao Lô khẳng định, Đức Chúa Trời không hề rời bỏ dân của Ngài: câu 1 - 5
" Vậy tôi nói: Đức Chúa Trời có bỏ dân Ngài chăng? Chẳng hề như vậy; vì chính tôi là dân Y-sơ-ra-ên, dòng dõi Áp-ra-ham, về chi phái Bên-gia-min. 2 Đức Chúa Trời chẳng từng bỏ dân Ngài đã biết trước. Anh em há chẳng biết Kinh Thánh chép về chuyện Ê-li sao? thể nào người kiện dân Y-sơ-ra-ên trước mặt Đức Chúa Trời mà rằng: 3 Lạy Chúa, họ đã giết tiên tri Ngài, hủy phá bàn thờ Ngài; tôi còn lại một mình, và họ tìm giết tôi. 4 Nhưng Đức Chúa Trời đáp lại thể nào? Ta đã để dành cho ta bảy ngàn người nam chẳng hề quì gối trước mặt Ba-anh. 5 Ngày nay cũng vậy, có một phần còn sót lại theo sự lựa chọn của ân điển."
Vì sao Phao lô đặt ra câu hỏi rằng Đức Chúa Trời có rời bỏ dân Y sơ ra ên hay không?
Câu hỏi của Phao-lô hoàn toàn hợp lý tại thời điểm này trong sách Rô-ma. Nếu việc Y-sơ-ra-ên lựa chọn khước từ phúc âm với kế hoạch đời đời của Đức Chúa Trời, thì liệu điều đó có nghĩa là số phận của Y-sơ-ra-ên đã được định đoạt và không còn khả năng phục hồi hay sao?
Chắc chắn là không!
Bất chấp tình trạng hiện tại, Y-sơ-ra-ên không hề bị loại bỏ vĩnh viễn. Sau đây, Phao-lô sẽ giải thích rõ hơn về câu trả lời này.
Phao lô nói: "Tôi cũng là một người Y-sơ-ra-ên" Đức tin của Phao-lô vào Chúa Giê-xu là Đấng Mê-si, cho thấy rằng, trong vòng người Do Thái, vẫn có những người được Đức Chúa Trời chọn lựa đã đón nhận Tin Lành.
Phao lô đã lấy chính mình ra làm chứng, bất cứ khi nào chúng ta muốn tìm bằng chứng về công việc của Đức Chúa Trời, trước hết chúng ta nên nhìn vào chính cuộc đời mình. Đây là điều Phao-lô đã làm, và cũng là điều chúng ta nên làm.
Phao lô nêu ra trường hợp của Tiên tri Ê li, Ê li tưởng rằng chỉ còn có một mình ông làm tiên tri của Đức Chúa Trời, nhưng sự thật, Chúa cho Ê li biết Ngài đã để dành lại tới bảy ngàn người nam chưa hề quỳ xuống trước thần Ba anh.
Phao lô muốn nói, tuy nhìn chung, dân Y sơ ra ên đa số đã từ chối Đấng Christ, nhưng vẫn còn nhiều người sót lại trong dân nầy đã tin nhận Ngài. Số còn sót lại nầy sẽ làm thay đổi số phận của dân Y sơ ra ên, Chúa thường hành động trong Y-sơ-ra-ên thông qua nhóm người sót lại trung thành này, như Ngài đã làm trong thời Ê-li.
Đức Chúa Trời đã tuyên bố trong thời Tiên tri Ê sai rằng, Ngài sẽ phục hồi Y sơ ra ên bằng chính những người sót lại, là những người vẫn còn đi trong đường lối công chính và luôn nhờ cậy Chúa. Qua sách Ê sai, người ta nhận thấy hai chữ dân sót lại không phải do may mắn, không phải do tình cờ, mà là một chương trình của Chúa để dành phục hồi Y sơ ra ên trong thời điểm của Chúa.
Phao lô nêu ra lời kiện cáo với Chúa của Ê li, Ê li trong lúc thất vọng đã kiện chính dân tộc của mình, rằng họ giết các Tiên tri, họ phá huỷ bàn thờ...Có lẽ điều đó sẽ khiến Đức Chúa Trời nổi cơn thịnh nộ mà phạt vạ họ, nhưng Chúa chưa làm gì, vì chỉ có Ngài biết có tới bảy ngàn người trung tín. Ai biết được điều nầy? Chỉ một mình Đức Chúa Trời thấy rõ.
Dù chỉ là một phần nhỏ, nhưng con số đó hiện hữu. Phao lô cho biết, bây giờ cũng vậy, chỉ có một số nhỏ trong Y sơ ra ên tin nhận Đấng Christ, mặc dù vào thời của Phao-lô, không có nhiều người Do Thái chấp nhận Chúa Giê-xu là Đấng Mê-si, nhưng vẫn có một nhóm nhỏ tin nhận Ngài, và Đức Chúa Trời sẽ sử dụng nhóm nhỏ đó theo cách đầy mạnh mẽ. Đức Chúa Trời sẽ dùng nhóm nhỏ nầy để khôi phục lại dân Y sơ ra ên. Điều quan trọng không nằm ở số lượng, mà ở sự bền vững trong kế hoạch của Đức Chúa Trời dành cho Y-sơ-ra-ên.
*** Đức Chúa Trời bày tỏ quyền của Ngài trong việc chọn phần còn sót lại theo ân điển: câu 6 - 11
" Nhưng nếu bởi ơn thì chẳng phải bởi việc làm nữa; bằng chẳng, thì ơn không còn phải là ơn. 7 Vậy thì làm sao? Ấy là dân Y-sơ-ra-ên chẳng được điều mình tìm; song những kẻ lựa chọn thì đã được, và những kẻ khác thì bị cứng lòng, 8 như có chép rằng: Đức Chúa Trời đã cho họ mờ tối, con mắt chẳng thấy, lỗ tai chẳng nghe, cho đến ngày nay. 9 Lại, Đa vít có nói: Ước gì bàn tiệc của họ trở nên bẫy Lưới, nên dịp vấp chân và sự phạt công bình cho họ; 10 Ước gì mắt họ mù không thấy được, Và lưng họ cứ khom luôn. 11 Tôi lại hỏi rằng: Có phải dân Y-sơ-ra-ên vấp chân dường ấy hầu cho té xuống chăng? Chẳng hề như vậy! Nhưng ấy là bởi tội lỗi họ mà sự cứu đã đến cho dân ngoại, hầu để giục lòng tranh đua của họ."
Phao lô nhắc lại, nếu gọi là Ân điển thì không thể đến từ việc làm, Phao lô nhắc nhở chúng ta về định nghĩa của ân điển: món quà miễn phí của Đức Chúa Trời, không được ban cho với mục đích dựa trên thành tích hay tiềm năng của người nhận, mà chỉ được ban cho bởi lòng tốt của người ban.
Những người được chọn đã nhận được nó, đáp lại lòng thương xót của Đức Chúa Trời, nhưng những người khác thì cứng lòng, họ từ chối thì sẽ bị từ chối.
Thêm nữa, chúng ta sẽ ngạc nhiên khi Phao lô nói, Đức Chúa Trời làm cho tâm trí dân Giu đa chẳng tin, mờ tối cho đến ngày nay...Tình trạng nầy đã xảy ra từ xưa, Phao lô trích dẫn từ sách Ê-sai chương 29 và Thi Thiên chương 69 cho thấy rằng Đức Chúa Trời có thể ban một “tinh thần đờ đẫn” cùng đôi mắt không thể nhìn thấy, khiến mắt họ trở nên tối tăm. Hãy suy nghĩ về cách nói nầy, nếu Đức Chúa Trời đã khiến họ trở nên ngu muội thì sao Ngài lại trách họ? Hãy nhìn bối cảnh lúc Pha ra ôn liên tiếp ngăn cản dân Y sơ ra ên lìa khỏi xứ Ê díp tô, Kinh thánh chép, Đức Chúa Trời đã làm cho Pha ra ôn cứng lòng, thật sự, Pha ra ôn cứng lòng nhiều lần, Chúa không kêu gọi nữa, Ngài cứ để mặc ông ta như vậy để thấy hậu quả của sự trừng phạt.
Dân Y sơ ra ên cũng vậy, họ rất quyết liệt trong việc từ chối Đấng Christ, Đấng Mê si mà họ đang trông chờ, Chúa Giê su dùng đủ mọi cách để thuyết phục, làm nhiều phép lạ để họ tin, nhưng họ vẫn một lòng từ chối, Đức Chúa Trời có một hình phạt cho những kẻ cứng lòng, Ngài bỏ mặc họ, Ngài không soi sáng, cũng không thuyết phục họ nữa.
Khi con dân Chúa rơi vào tình trạng đó, họ mất cơ hội, mất ân điển, mất sự dẫn dắt, bảo vệ của Chúa. Sự cứng lòng, u mê, đờ đẫn đã có sẳn, Chúa không cần làm cho nó tệ hại thêm, nếu họ mãi không tỉnh thức, Chúa cứ để họ như thế.
Hơn nữa, nếu Đức Chúa Trời chọn chỉ soi sáng cho một phần còn sót lại của dân Y-sơ-ra-ên vào thời điểm hiện tại, thì Ngài hoàn toàn có thể làm như vậy theo ý muốn của Ngài. Các học giả gọi " tinh thần đờ đẫn” là một thái độ thờ ơ, chết lặng đối với các vấn đề thuộc linh. Người Do Thái thời Phao-lô cảm thấy quá an tâm với niềm tin rằng họ là dân được chọn; chính niềm tin đó lại trở thành điều khiến họ đi đến chỗ thất bại.
Đọc đến đây, mọi người đều thấy dân Y sơ ra ên đáng tội, dân đó sẽ tự vấp ngã, té và chết, nhưng lạ quá, Phao lô đặt ra câu hỏi:
Có phải dân Y-sơ-ra-ên vấp chân dường ấy hầu cho té xuống chăng?
Câu trả lời là chẳng hề như vậy. Thế thì Đức Chúa Trời đã làm gì? Ngài không nổi giận sao? Có phải người Cha của Y sơ ra ên đã qua nhân từ ?
Ngài có giận nhưng Ngài dùng mọi cách để họ suy nghĩ, Chúa đem Ân điển quý báu là sự cứu rỗi mà đáng ra dân Y sơ ra ên phải hưởng trước, Ngài đem món quà đó cho dân ngoại để khơi dậy sự ganh tỵ của họ. Một sự ganh tỵ tích cực, thúc đẩy họ đón nhận những phước lành mà người ngoại đang được hưởng.
Tiếc rằng họ dường như cũng chẳng ganh tỵ, họ không biết quý trọng món quà lớn của Chúa, sách Ê sai nói, Ngài đem cho dân ngoại, chúng cảm ơn và xưng nhận đó là Đức Chúa Trời của tôi, còn dân tuyển của Chúa thì Kinh Thánh chép: Ngài giơ tay cả ngày mà họ chẳng đáp lời. Ê sai 65: 1 &2
" Những kẻ vốn chẳng cầu hỏi ta thì đã hỏi thăm ta; những kẻ vốn chẳng tìm ta thì đã gặp được ta. Ta đã phán cùng một dân chưa kêu cầu danh ta, mà rằng: Ta đây, ta đây! 2 Ta đã giang tay ra trọn ngày hướng về một dân bội nghịch, là những kẻ đi trong đường không tốt, theo ý riêng mình,"
Khi Phao lô xác định, không vì đám đông không tin mà dân Do Thái bị diệt vong, không phải vậy, Chúa vẫn đang dùng số ít còn lại của họ để phục hồi Y sơ ra ên. Điều đó tạo thêm cơ hội để phúc âm được truyền đến với người ngoại, và nhiều người ngoại đã nắm bắt cơ hội này như hết thảy chúng ta.
*** Người ngoại được nhận phần Ân điển phải rất cẩn thận gìn giữ: câu 12 - 24
" Vả, nếu tội lỗi họ đã làm giàu cho thế gian, sự kém sút họ đã làm giàu cho dân ngoại, thì huống chi là sự thạnh vượng của họ! 13 Tôi nói cùng anh em là người ngoại: bấy lâu tôi làm sứ đồ cho dân ngoại, tôi làm vinh hiển chức vụ mình, 14 cố sức để giục lòng tranh đua của những kẻ đồng tộc tôi, và để cứu nấy người trong đám họ. 15 Vì nếu sự dứt bỏ họ ra đã làm sự hòa thuận cho thiên hạ, thì sự họ trở lại trong ân điển há chẳng phải là sự sống lại từ trong kẻ chết sao? 16 Vả, nếu trái đầu mùa là thánh, thì cả đồng cũng thánh; và nếu rễ là thánh, thì các nhánh cũng thánh. 17 Ví bằng có một hai nhánh bị cắt đi, và ngươi vốn là cây ô-li-ve hoang được tháp vào chỗ các nhánh ấy để có phần về nhựa và rễ của cây ô-li-ve, 18 thì chớ khoe mình hơn các nhánh đó. Nhưng nếu ngươi khoe mình, thì hãy biết rằng ấy chẳng phải là ngươi chịu đựng cái rễ, bèn là cái rễ chịu đựng ngươi. 19 Ngươi sẽ nói rằng: Các nhánh đã bị cắt đi, để ta được tháp vào chỗ nó. 20 Phải lắm; các nhánh đó đã bị cắt bởi cớ chẳng tin, và ngươi nhờ đức tin mà còn; chớ kiêu ngạo, hãy sợ hãi. 21 Vì nếu Đức Chúa Trời chẳng tiếc các nhánh nguyên, thì Ngài cũng chẳng tiếc ngươi nữa. 22 Vậy hãy xem sự nhân từ và sự nghiêm nhặt của Đức Chúa Trời: sự nghiêm nhặt đối với họ là kẻ đã ngã xuống, còn sự nhân từ đối với ngươi, miễn là ngươi cầm giữ mình trong sự nhân từ Ngài: bằng chẳng, ngươi cũng sẽ bị chặt. 23 Về phần họ, nếu không ghì mài trong sự chẳng tin, thì cũng sẽ được tháp; vì Đức Chúa Trời có quyền lại tháp họ vào. 24 Nếu chính ngươi đã bị cắt khỏi cây ô-li-ve hoang thuận tánh mình, mà được tháp vào cây ô-li-ve tốt nghịch tánh, thì huống chi những kẻ ấy là nhánh nguyên sẽ được tháp vào chính cây ô-li-ve mình! "
Sách Công vụ đã chép về những duyên cớ mà Tin lành được lan rộng ra nơi người ngoại. Không phải việc người Do Thái khước từ Chúa Giê-xu, đã trực tiếp khiến người ngoại được cứu. Điều đó chỉ tạo thêm cơ hội để phúc âm được truyền đến với người ngoại, và nhiều người ngoại đã nắm lấy cơ hội này.
Theo như lời dặn của Chúa Giê su, Tin lành sẽ được ưu tiên giảng cho dân Giu đa trước, từ Giê ru sa lem, tới Sa ma ri rồi mới ra khắp đất, nhưng khi người Giu đa từ chối Tin lành, thì Phúc âm được lan ra cho người ngoại. Theo nghĩa này, việc người Do Thái khước từ phúc âm đã trở thành sự giàu có cho người ngoại.
Phao lô muốn nhấn mạnh, người ngoại khi được nhập vào đám con cháu Áp ra ham theo như lời hứa là một ân huệ, không được xem thường dân Y sơ ra ên, cũng như không được ỷ y vào sự thương xót của Chúa, mà nghĩ rằng Ngài phải chịu đựng họ như Ngài đã chịu đựng dân Ngài. Không đâu, nếu Đức Chúa Trời nghiêm khắc với Y sơ ra ên trong mối liên kết với Ngài, thì Ngài cũng xử như vậy với người ngoại.
Phao lô vẽ ra hình ảnh một cây Ô liu, biểu tượng dân Y sơ ra ên trong vườn của Đức Chúa Trời, Ngài đã chặt những nhánh thật của cây Ô liu đó, tức là những người Y sơ ra ên chẳng tin, để tháp vào người ngoại, tất cả sống được nhờ vào gốc rễ của nó, ra trái cũng do nhựa của nó, người ngoại phải hết sức khiêm nhường trong thân phận của mình, hãy biết cám ơn Đức Chúa Trời mà thương tiếc người anh em thật đã bị bỏ ra để mình được tháp vào.
Phao lô còn nói thêm rằng: " Vả, nếu trái đầu mùa là thánh, thì cả đồng cũng thánh; và nếu rễ là thánh, thì các nhánh cũng thánh."
Trái đầu mùa ở đây có lẽ tượng trưng cho những tín hữu Cơ Đốc đầu tiên, vốn là người Do Thái. Sự hoán cải của họ là điều thánh khiết và tốt lành cho Hội thánh. Suy cho cùng, tất cả các sứ đồ và phần lớn những người được Chúa dùng để viết nên Kinh Thánh đều là người Do Thái.
Nếu sự hoán cải của nhóm người đầu tiên này đã mang lại điều tốt lành cho các dân ngoại, thì khi toàn bộ mùa gặt được thu hoạch, phước lành ấy còn lớn lao đến nhường nào! Nhóm cốt lõi gồm những tín hữu Cơ Đốc đầu tiên, tất cả họ đều là người Do Thái. Phao lô nhắc nhở rằng Chúa không trồng thêm một cây ô liu giống ngoại quốc, mà Ngài tháp những nhánh ô liu hoang vào cây ô liu Y sơ ra ên đã có sẳn, nên người ngoại phải nghĩ rằng, chính người Y sơ ra ên phải chịu đựng dân ngoại, chứ không phải dân ngoại chịu đựng Y sơ ra ên. Nên nhớ, Phao lô dùng chữ "ô liu hoang" "a wild olive tree để chỉ dân ngoại.
Dân ngoại muốn được gắn kết bền vững trong mối liên hệ như con cái Y sơ ra ên, thì phải sống trọn vẹn bởi Ân điển ban cho, không cậy nơi việc làm, tình yêu ban sự cứu rỗi của Chúa phải được đón nhận bằng sự kiên trì và tin cậy.
Và nếu Y-sơ-ra-ên từng bị “chặt ra” vì sự vô tín, thì họ hoàn toàn có thể được ghép trở lại nếu họ không tiếp tục sống trong sự vô tín đó nữa.
Dân Ngoại đã rơi vào cám dỗ khi nghĩ rằng Y sơ ra ên không còn tương lai. Thay vào đó, Đức Chúa Trời đã chọn người Dân Ngoại. Chính kiểu kiêu ngạo này là điều mà Phao-lô đang phản đối.
*** Đức Chúa Trời thành tín sẽ phục hồi Y sơ ra ên: câu 25 - 30
" Vả, hỡi anh em, tôi không muốn anh em chẳng biết sự mầu nhiệm nầy, e anh em khoe mình khôn ngoan chăng: ấy là một phần dân Y-sơ-ra-ên đã sa vào sự cứng lòng, cho đến chừng nào số dân ngoại nhập vào được đầy đủ; 26 vậy thì cả dân Y-sơ-ra-ên sẽ được cứu, như có chép rằng: Đấng Giải cứu sẽ đến từ Si-ôn, Cất sự vô đạo ra khỏi Gia-cốp; 27 Ấy là sự giao ước mà ta sẽ lập với họ, Khi ta xóa tội lỗi họ rồi. 28 Nếu luận về Tin Lành thì họ là nghịch thù bởi cớ anh em, còn luận về sự lựa chọn, thì họ được yêu thương bởi cớ các tổ phụ; 29 vì các sự ban cho và sự kêu gọi của Đức Chúa Trời chẳng hề đổi lại được bao giờ."
Việc người ngoại được nhập vào sự cứu rỗi của Chúa Giê su, khi một số dân Y sơ ra ên từ chối Tin lành, được Phao lô gọi đó là " sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời" mà một tín hữu khi được Đức Thánh Linh cảm hoá, sẽ được khôn ngoan để biết.
.
Sách Ê sai hỏi rằng, có phải vì một số người Y sơ ra ên không tin mà chương trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời ra vô dụng không? Câu trả lời là không, vì sự thành tín của Chúa, sự cứu rỗi của Ngài đến với nhân loại không dựa trên nhóm người chẳng tin, nó vẫn thành tựu, vẫn tiến bước cho tới khi hoàn tất trong ý muốn của Chúa.
Cũng trong sách Ê sai 55: 10 -13 chép
" Vả, như mưa và tuyết xuống từ trên trời và không trở lại nữa, mà đượm nhuần đất đai, làm cho sanh ra và kết nụ, đặng có giống cho kẻ gieo, có bánh cho kẻ ăn, 11 thì lời nói của ta cũng vậy, đã ra từ miệng ta, thì chẳng trở về luống nhưng, mà chắc sẽ làm trọn điều ta muốn, thuận lợi công việc ta đã sai khiến nó. 12 Vì các ngươi sẽ đi ra vui vẻ, được đưa đi trong sự bình an. Trước mặt các ngươi, núi và đồi sẽ trổi tiếng ca hát, mọi cây cối ngoài đồng sẽ vỗ tay. 13 Cây tùng sẽ mọc lên thay cho bụi gai, và cây sim sẽ lớn lên thay cho gai gốc; điều đó sẽ làm cho biết danh Đức Giê-hô-va, và là một dấu đời đời không hề tiệt diệt."
Mục đích của Đức Chúa Trời khi để một phần dân Y-sơ-ra-ên rơi vào tình trạng mù lòa là mở đường cho sự trọn vẹn của các dân ngoại được bước vào. Cụm từ “một phần” hàm ý sự “tạm thời”; tình trạng mù lòa của dân Y-sơ-ra-ên chỉ là tạm thời. Một ngày kia, người Do Thái sẽ nhận ra sự mê muội, dại dột của chính mình, họ sẽ tiếp nhận Chúa Giê-xu Christ, và sự phục hồi vinh hiển của cả dân tộc này sẽ mang đến Thời đại Vương quốc.
Vào thời điểm đó, Đức Chúa Trời sẽ một lần nữa hướng trọng tâm kế hoạch đời đời của Ngài trở lại với dân Y-sơ-ra-ên, để rồi toàn thể Y-sơ-ra-ên sẽ được cứu. Kế hoạch đời đời của Đức Chúa Trời không đặt trọng tâm vào tất cả mọi người một cách đồng đều trong suốt các thời đại.
Phao lô cũng tiết lộ, sau nầy, toàn thể dân Y-sơ-ra-ên sẽ được cứu, "như có chép rằng: Đấng Giải cứu sẽ đến từ Si-ôn, Cất sự vô đạo ra khỏi Gia-cốp;"
Toàn thể dân Israel này được phục hồi không phải là “Israel thuộc linh” trong Rô-ma 11:25, mà là số Y sơ ra ên không tin.
Mặc dù Đức Chúa Trời đã chuyển trọng tâm ân điển cứu rỗi của Ngài từ Israel sang các dân ngoại, nhưng Ngài sẽ lại hướng trọng tâm đó trở về với Israel sau này.
Có nhiều thắc mắc về cụm từ " toàn thể Y sơ ra ên sẽ được cứu" ở đây của Phao lô, có học giả cho rằng nên hiểu không phải là tất cả mà là đại đa số.
“Toàn thể Y-sơ-ra-ên” là một cụm từ thường xuất hiện trong văn chương Do Thái; trong ngữ cảnh đó, cụm từ này không nhất thiết mang nghĩa là “mọi người Do Thái mà không sót một ai”, mà có nghĩa là “Y-sơ-ra-ên xét như một chỉnh thể”.
Và khi toàn thể Y-sơ-ra-ên được cứu, họ sẽ được cứu nhờ việc tiếp nhận Chúa Giê-xu Christ là Đấng Mê-si, dù điều này nghe có vẻ khó xảy ra, nhưng Kinh Thánh cho thấy đây là điều kiện cần thiết để Chúa Giê-xu Christ tái lâm, Ma-thi-ơ 23:39:
" Vì, ta bảo, các ngươi sẽ không thấy ta nữa, cho đến lúc các ngươi sẽ nói rằng: Phước cho Đấng nhân danh Chúa mà đến!"
Chúa Giê-xu sẽ không trở lại cho đến khi Đức Chúa Trời hướng sự thương xót cứu rỗi của Ngài về phía Y-sơ-ra-ên một lần nữa, và Y-sơ-ra-ên đáp lại Đức Chúa Trời thông qua Chúa Giê-xu Christ.
Ngài sẽ xuất hiện ở Si ôn, trên đất nước Do Thái. Đức Chúa Trời làm mọi việc để Y sơ ra ên được cứu, không phải vì họ tốt, nhưng vì giao ước của Ngài với tổ phụ họ, cho nên, Phao lô nói, họ được yêu thương vì cớ các tổ phụ họ.
*** Tình yêu của Đức Chúa Trời đối với Y sơ ra ên vẫn bền bĩ và đầy tha thứ: câu 31 - 36
" Lại như khi trước anh em đã nghịch cùng Đức Chúa Trời, mà bây giờ được thương xót bởi sự nghịch của họ, 31 thì cũng một thể ấy, bây giờ họ đã nghịch, hầu cho cũng được thương xót bởi sự thương xót đã tỏ ra với anh em. 32 Vì Đức Chúa Trời đã nhốt mọi người trong sự bạn nghịch, đặng thương xót hết thảy. 33 Ôi! sâu nhiệm thay là sự giàu có, khôn ngoan và thông biết của Đức Chúa Trời! Sự phán xét của Ngài nào ai thấu được, đường nẻo của Ngài nào ai hiểu được! 34 Vì, ai biết ý tưởng Chúa, ai là kẻ bàn luận của Ngài? 35 Hay là ai đã cho Chúa trước, đặng nhận lấy điều gì Ngài báo lại? 36 Vì muôn vật đều là từ Ngài, bởi Ngài, và hướng về Ngài. Vinh-hiển cho Ngài đời đời vô-cùng! A-men."
Mặc dù vào thời Phao-lô, người Do Thái dường như là kẻ bội nghịch Đức Chúa Trời và chống đối Chúa Giê-xu, họ vẫn được xem là những người được yêu dấu, nếu không vì lý do nào khác, thì ít nhất cũng vì các tổ phụ của họ. Các ân tứ và sự kêu gọi của Đức Chúa Trời không thể thu hồi vì sự thành tín của Chúa.
Đây là một lý do cho thấy Đức Chúa Trời vẫn chưa từ bỏ dân tộc Y-sơ-ra-ên. Nguyên tắc này, được Phao-lô nêu ra, mang lại cho chúng ta sự an ủi. Điều đó có nghĩa là Đức Chúa Trời sẽ không từ bỏ chúng ta, và Ngài luôn để ngỏ con đường dẫn đến sự phục hồi.
Cuối cùng, Phao lô nói rằng bất kể dân Y sơ ra ên hay người ngoại, Chúa đều thương xót, ý tưởng ở đây là Đức Chúa Trời đã giam cầm cả người Do Thái và dân ngoại bang như những kẻ vi phạm luật. Đức Chúa Trời ban lòng thương xót cho những tù nhân này, dựa trên con người và công việc của Chúa Giê-su. Nếu Đức Chúa Trời dùng sự bất phục tùng của dân Y-sơ-ra-ên vì lợi ích của dân ngoại bang, thì Ngài cũng có thể dùng lòng thương xót dành cho dân ngoại bang để thương xót dân Y-sơ-ra-ên.
Phao lô ca ngợi tình yêu và sự kỳ diệu sâu rộng của Ngài, Chúa đã dang rộng cánh tay Ngài để cả dân Y sơ ra ên và người ngoại đều được vào đó. Khi suy ngẫm về kế hoạch vĩ đại của Đức Chúa Trời xuyên suốt các thời đại, Phao-lô đã thốt lên những lời ngợi khen đầy tự phát, Phao lô nhận ra rằng đường lối của Đức Chúa Trời là điều không thể dò thấu, còn sự khôn ngoan và hiểu biết của Ngài thì vượt quá khả năng thấu hiểu của ông.
Tất cả đều thuộc về Chúa. Kế hoạch này đến từ Đức Chúa Trời, không phải là ý tưởng của con người.
Phao lô thấy rằng con người không thể nào góp ý gì được trong kế hoạch của Đức Chúa Trời, chúng ta không thể biết được ý tưởng của Chúa. Nguyện xin vinh hiển thuộc về Ngài đời đời: Phao-lô không thể thấu hiểu trọn vẹn về Đức Chúa Trời lại càng khiến ông tôn vinh Ngài nhiều hơn, và khi nhìn thấy kết quả vĩ đại của Đức Chúa Trời, chúng ta càng thờ phượng Ngài với lòng nhiệt thành mãnh liệt hơn.