Công vụ 27:"Tàu chìm nhưng Phao lô và mọi người được cứu"

**Dân Tộc Việt **Các Phương Tiện zoom

" Đáng ngợi khen Đức Giê-hô-va thay, Vì tại trong thành vững bền Ngài đã tỏ cho tôi sự nhân từ lạ lùng của Ngài! Trong cơn bối rối tôi nói rằng: Tôi bị truất khỏi trước mặt Chúa. Nhưng khi tôi kêu cầu cùng Chúa, Chúa bèn nghe tiếng nài xin của tôi." TT 31: 21 & 22

Công vụ 27: " Tàu chìm nhưng Phao lô và mọi người được cứu"

 

Đọc Công vụ 27: 27 - 44

Câu hỏi:

 

1/ Vì sao Phao lô biết các thuỷ thủ muốn bỏ trốn?
Khi Phao lô khuyên người ta phải ăn vì rất cần cho sự cứu, ông tiên đoán về việc gì?

 

2/ Có hai sự kiện có thể chi phối lời hứa được cứu toàn vẹn của Đức Chúa Trời là gì?
    Vì sao thầy đội và binh lính tin Phao lô?

 

3/ Tất cả ba lời hứa của Chúa đều xảy ra cùng một ngày, chứng tỏ điều gì?
Ngoài việc cứu Phao lô, Chúa có ý định gì trong sự cố chìm tàu?


  "Tàu chìm nhưng Phao lô và mọi người được cứu"

 

*** Tàu tắp vô gần đất liền: câu 27 - 29

 

" Đã đến đêm thứ mười bốn mà chúng ta cứ trôi nổi trên biển A-đờ-ria-tích, lúc nửa đêm, các bạn tàu ngờ đang đến gần một đất nào. 28 Họ thả trái dò xuống, thì thấy sâu hai chục sải; hơi xa một ít, lại thả nữa, thì thấy mười lăm sải. 29 Bấy giờ, sợ đụng rạn, bọ bèn từ trên đầu lái tàu quăng bốn neo xuống, và ước ao đến sáng."


   Tiếp theo kỳ trước, chúng ta được chứng kiến con tàu bị cơn bão biển ập tới, nó lênh đênh không còn biết sẽ đi về đâu. Mọi người trong tàu đã trải qua trọn hai tuần lễ khổ sở và khiếp đảm giữa cơn bão dữ.


   Các thủy thủ cảm nhận rằng con tàu của họ đang tiến gần đến đất liền, có lẽ nhờ họ nghe thấy tiếng sóng vỗ từ phía xa, các thủy thủ liền thực hiện những biện pháp phòng ngừa cần thiết để tránh bị đâm vào những mỏm đá ngầm mà trong đêm họ không thể thấy được, họ thả bốn chiếc neo từ phía đuôi tàu và cầu nguyện cho trời mau sáng.

  Trong câu 29 nói rằng những người trên tàu cầu nguyện (chứ không phải ước ao)
Đến đây, chúng ta thấy lời trấn an, và khải tượng về lời phán của Thiên sứ với Phao lô, khiến cho nhiều người tin tưởng, họ cùng nhau cầu nguyện cho trời mau sáng.

*** Phương cách của loài người : câu 30 - 32

" nhưng vì bạn tàu tìm phương lánh khỏi chiếc tàu và thả chiếc tam bản xuống biển, giả đò đi thả neo đằng trước mũi, 31 thì Phao-lô nói với thầy đội và lính rằng: Nếu những người nầy chẳng cứ ở trong tàu, thì các ông chẳng được cứu. 32 Bọn lính bèn cắt dây buộc tam bản, làm cho rớt xuống."

 

   Hai chữ " bạn tàu" trên đây cần dịch đúng là những thuỷ thủ thì mới nắm bắt được câu chuyện.

  Các thuỷ thủ là những người hiểu biết nhiều nhất, qua cơn sóng dữ, họ phải bó tay, nhưng bây giờ khi cảm nhận con tàu đã gần đến đất liền, họ manh nha cùng nhau chạy thoát trên chiếc xuồng nhỏ lúc trước được kéo lên tàu.


  Bọn thuỷ thủ giả vờ đi ra trước mũi, gần chiếc xuồng nhỏ, nói rằng họ đi thả neo, nhưng có mưu định lên xuồng bỏ trốn. Nhận thấy cơ hội cứu lấy mạng sống của chính mình giữa màn đêm, họ đã định bỏ tàu mà đi, bỏ mặc lại các hành khách. Không hiểu sao Phao lô lại biết điều bí mật đó, Phao lô nói với viên đại đội trưởng và các binh lính rằng:


“Nếu những người này không ở lại trên tàu, thì các ông sẽ không thể được cứu.”


  Phao-lô biết rõ hai lý do khiến họ buộc phải ở lại cùng nhau. Thứ nhất, các hành khách trên tàu đang vô cùng cần đến sự am hiểu chuyên môn của thủy thủ đoàn, sẽ là một tai họa nếu thủy thủ đoàn bỏ mặc các hành khách mà đi.


Thứ hai, có lẽ Phao-lô đã cảm nhận được rằng lời hứa của Đức Chúa Trời ban cho ông mạng sống của toàn bộ những người trên tàu, đã bao hàm một điều kiện tiên quyết là họ phải cùng nhau ở lại.


Điều rất ngạc nhiên là thầy đội và binh lính đã nghe theo lời Phao lô, cắt đứt dây buộc chiếc thuyền nhỏ để nó tự trôi đi, thế là mưu sự của các thuỷ thủ không thành.

Vào thời điểm này, dường như các binh lính đã đặt một niềm tin rất lớn nơi Phao-lô. Tin vào Đức Chúa Trời của Phao lô thì đúng hơn.

*** Phao lô tiếp tục trấn an, khích lệ mọi người: câu 33 -38

" Đoạn, trong khi đợi trời sáng, Phao-lô khuyên ai nấy hãy ăn. Người nói: Hôm nay là ngày thứ mười bốn mà các ngươi đang trông đợi, nhịn đói chẳng ăn chút nào. 34 Vậy, ta khuyên các ngươi hãy ăn, vì thật là rất cần cho sự cứu của các ngươi, và chẳng ai trong vòng các ngươi sẽ mất một sợi tóc trên đầu mình. 35 Nói như vậy rồi, người bèn lấy bánh, đứng trước mặt mọi người, tạ ơn Đức Chúa Trời rồi, thì bẻ ra và ăn. 36 Bấy giờ ai nấy đều giục lòng, và ăn. 37 Vả, số chúng ta hết thảy ở trong tàu được hai trăm bảy mươi sáu người. 38 Họ đã ăn vừa no nê, bèn quăng đồ lương thực xuống biển, làm cho nhẹ tàu đi."

  Một lần nữa, chúng ta lại nghe Phao lô khuyên mọi người hãy ăn, qua chi tiết nầy, có thể thấy, sau một thời gian quá dài trong cơn bão dồi dập, mọi người gần như đau ốm cả về thể xác lẫn tâm linh, thay vì giành ăn để được sống, thì bọn họ lại không ăn.

  Phao lô hứa chắc với họ rằng: "chẳng ai trong vòng các ngươi sẽ mất một sợi tóc trên đầu mình."

  Phao lô đã bẻ bánh, tạ ơn Đức Chúa Trời và ăn trước mặt mọi người, sự tự tin của Phao lô và lời hứa của Chúa mang lại khích lệ lớn, mọi người tin tưởng nơi lời hứa của sự cứu trước mặt mà cùng nhau ăn, thật là một cảnh tượng đẹp, chắc không thể phai nhoà trong tâm trí của những người đó suốt cuộc đời.

  Có những chi tiết cho thấy dường như Phao-lô xem bữa ăn này như là một bữa Tiệc Thánh tại bàn của Chúa, dành cho những Cơ Đốc nhân đang hiện diện tại đó, tức là những người đang tin.
Đức Chúa Trời có vô vàn lời hứa về sự an ủi và chăm sóc của Ngài dành cho chúng ta trong những lúc tuyệt vọng; thế nhưng, những lời hứa ấy chỉ thực sự mang lại ích lợi cho chúng ta khi chúng ta tin nhận chúng.

Trước khi mọi người được cứu, Chúa còn cho chúng ta biết rõ số người trên tàu là hai trăm bảy mươi sáu người, con số thật không nhỏ khi Phao lô cam đoan, không có mảy may nào xảy ra cho hết thẩy bọn họ. Điều cuối cùng họ làm là quăng hết lương thực xuống biển, có nghĩa, nếu hôm nay không được cứu, mọi người sẽ chết.


ba điều rất nghiêm túc trong lời hứa của Chúa


Thứ nhất, con tàu sẽ mất
   Thứ hai sự cứu phải xảy ra ngay trong ngày hôm sau, nếu không sẽ chẳng còn lương thực.
     Thứ ba tất cả 276 người đều được toàn vẹn, thậm chí không ai bị thương tích gì,

*** Điều tiên đoán thứ nhất xảy ra, tàu bị sóng đập tan nát: câu 39 -41


" Đến sáng ngày, họ chẳng nhận biết là đất nào, nhưng thấy có cái vịnh và bờ, bèn định đỗ tàu đó mà núp xem có thể được chăng. 40 Vậy, họ dứt dây bỏ neo xuống biển, tháo dây bánh lái; đoạn, xổ buồm sau lái thuận theo gió, tìm lối chạy vào bờ. 41 Song chạy nhầm chỗ hai ngọn nước biển xáp nhau, thì họ làm cho tàu bị cạn tại đó; đầu mũi cắm xuống không động đậy được, còn đầu lái bị sóng đánh dữ lắm nên nát hết."

   Cái vịnh và bờ mà mọi người trên tàu thấy được khi trời sáng thoạt đầu họ không biết đó là đâu, nhưng rồi họ đã được cập bến tại một hòn đảo có tên là Malta. Nơi con tàu bị mắc cạn hiện nay được gọi là Vịnh St. Paul. Những người đi biển đều nói đó là một sự may mắn đến tuyệt vời, vì nếu con tàu bỏ lỡ đảo Malta, thì sẽ chẳng còn cách nào khác, ngoài việc phải tiếp tục lênh đênh thêm 200 dặm nữa, cho đến khi chạm tới bờ biển Tunisia, chẳng ai có thể kỳ vọng rằng con tàu sẽ trụ vững được lâu đến thế.


  Mũi tàu bị cắm xuống cát, mắc kẹt cứng, trong khi đuôi tàu lại bị những đợt sóng dữ phá tan tành, con tàu bị mắc cạn, lúc biển cả vẫn còn đang dậy sóng dữ dội, sóng đã liên hồi dội vào con tàu vốn đã suy yếu ấy, và bắt đầu xé nó ra từng mảnh. Tất cả những người trên tàu buộc phải nhảy khỏi tàu, nếu không muốn bị vỡ tan cùng với nó.

  Thế là lời tiên tri của Chúa về con tàu bị mất đã thành hiện thực, nhưng giữa khi còn sóng dữ, làm sao cả hai trăm bảy mươi sáu người, biết bơi và không biết bơi đều được cứu?

*** Lời hứa thứ hai và thứ ba đều xảy ra cùng lúc: câu 42 - 44

" Bấy giờ quân lính bàn định giết các tù phạm, e có người nào trong bọn họ lội thoát khỏi chăng. 43 nhưng thầy đội muốn cứu Phao-lô, nên ngăn trở nghị định đó. Người truyền cho ai biết lội thì nhảy xuống nước trước đi mà lội vào bờ, 44 và truyền cho những kẻ còn lại, người thì cỡi trên ván, kẻ thì cỡi trên miếng vách nát của chiếc tàu. Thế là ai nấy đều được lên bờ vô sự vậy."

 

   Có một chi tiết chí mạng nữa xảy ra ở đây, có thể làm cho lời hứa thứ ba bị thất bại, là ngoài việc chìm tàu, là binh lính sợ tù nhân thừa cơ trốn thoát nên muốn giết họ, điều nầy cho thấy luật La mã rất nghiêm nhặt, đối với các binh sĩ, việc giết các tù nhân hoàn toàn hợp lý; bởi lẽ, theo luật quân sự La Mã, một lính canh nếu để tù nhân của mình trốn thoát thì sẽ phải chịu hình phạt y hệt như hình phạt mà tù nhân đó đáng phải chịu, và trong trường hợp của hầu hết những tù nhân sẽ bị tử hình này, hình phạt đó chính là cái chết.

 Tuy nhiên, thầy đội, vì muốn cứu mạng Phao-lô, đã ngăn cản họ thực hiện ý định đó. Đức Chúa Trời đã ban cho Phao-lô ân huệ trong mắt viên đội trưởng La Mã này, nhờ ân huệ ấy mà Phao-lô cùng tất cả các tù nhân khác đã được bảo toàn mạng sống.


  Điều xảy ra đó làm ứng nghiệm lời phán đã được truyền cho Phao-lô: "Đức Chúa Trời đã ban cho ngươi tất cả những người cùng đi thuyền với ngươi".


  Lời hứa của Đức Chúa Trời không bao giờ sai trật, dù trong những hoàn cảnh éo le nhất có thể xảy ra. Rõ ràng, Phao lô được Đức Thánh Linh hướng dẫn trong mọi lúc, ông kêu gọi mọi người ăn uống để lấy sức, nếu không, họ sẽ không thể bơi hay chống cự được với những cơn sóng dữ mà có thể vào bờ. 

  Ngày nay, trên đảo Malta, chỗ bị chìm tàu, người ta dựng một bức tượng của Phao lô màu trắng rất cao, để các tàu biển đi qua đều được thấy, vịnh được mang tên của ông, vịnh St Paul. Phao lô có ơn trong lúc tự do, ông cũng có ơn trong lúc bị lao tù, thậm chí ông cũng được Chúa dùng luôn trong lúc hiểm nguy, bị chìm tàu đến ba lần. Quả thật đó là một người phi thường trong sự chịu đựng vì Tin Lành.