Công vụ 27: " Phao Lô bị chìm tàu trên đường đến La mã"
"Đức Chúa Jêsus phán: Vì ngươi đã thấy ta, nên ngươi tin. Phước cho những kẻ chẳng từng thấy mà đã tin vậy!" Giăng 20: 29
Công vụ 27: " Phao Lô bị chìm tàu trên đường đến La mã"
Câu hỏi:
1/ Vì sao Chúa bảo Phao lô phải đến Rô ma, mà chuyến đi lại gặp bão tố nguy hiểm và muôn vàn khó khăn?
Khi phục vụ Chúa, có phải lúc nào chúng ta cũng gặp toàn suông sẻ?
2/ Theo nhận xét của bạn, Phao lô có sợ hãi lúc gặp nguy hiểm không? Ông có quên mục đích chuyến đi của ông khi Chúa nhắc, người phải ứng hầu
trước Sê sa không?
3/ Vì sao có nhiều tử tội trên thuyền mà Chúa lại muốn cứu hết bọn họ?
Theo bạn nghĩ, chuyến tàu bão tố nầy là phước hay hoạ cho tất cả mọi người?
"Phao Lô bị chìm tàu trên đường đến La mã"
*** Phao lô và những người đi cùng tàu rời bến Sê sa rê: câu 1 & 2
" Khi đã định rằng chúng ta phải đi đàng biển qua nước Y-ta-li, họ bèn giao Phao-lô và mấy tên phạm khác cho một thầy đội tên là Giu-lơ, về đội quân Âu-gu ta. 2 Chúng ta xuống một chiếc tàu ở A-tra-mít phải trảy đi dọc bờ biển A-si, đoạn thì ra đi. A-ri-tạc, là người Ma-xê-đoan, về thành Tê-sa-lô-ni-ca, cùng đi với chúng ta."
Sách Công vụ các Sứ đồ, chương 27, thuật lại chi tiết về chuyến hải trình đầy nguy hiểm, cùng sự cố đắm tàu của Sứ đồ Phao-lô trên đường đến La Mã.
Về phương diện thần học, chương sách này làm nổi bật quyền tể trị tuyệt đối của Đức Chúa Trời đối với thiên nhiên và lịch sử, nhằm đảm bảo rằng các mục đích thiêng liêng của Ngài được hoàn thành.
Về phương diện lịch sử, đây là một trong những tư liệu chính xác và chi tiết nhất, từ thời cổ đại về hoạt động hàng hải trên vùng Địa Trung Hải.
Trong chuyến đi nầy, không chỉ có Phao lô, chính Lu ca có mặt trong đó. Lu-ca, tác giả của sách Công vụ các Sứ đồ, viết với tư cách là một nhân chứng tận mắt. Lời tường thuật sử dụng vốn từ của hàng hải rất chính xác, đồng thời mô tả các kiểu gió phổ biến trên biển, những phương pháp định vị cổ xưa (chẳng hạn như phương pháp định vị theo ước tính - *dead reckoning*), cùng các thao tác vận hành tàu cụ thể như việc "gia cố" thân tàu. Bên cạnh đó, Lu ca còn đề cập tới những chi tiết, liên quan đến hệ thống Hành chính Đế chế La Mã thời đó.
Câu chuyện làm nổi bật các hoạt động thực tiễn của Đế chế La Mã. Phao-lô thực hiện chuyến hành trình dưới quyền giám sát của viên Đội trưởng La Mã tên là Giu-lơ (Julius); điều này minh chứng cho việc cơ sở hạ tầng của La Mã, bao gồm hoạt động buôn bán ngũ cốc và vận tải quân sự, đã được sử dụng cùng nhau. Qua cách diễn tả của Luca, người ta có một cái nhìn thoáng qua về cơ cấu kinh tế, xã hội đa dạng của thế giới cổ đại. Con tàu thời đó đã rất lớn, có thể chở theo một đoàn người đông đảo, đủ mọi thành phần, gồm 276 người, bao gồm tù nhân, binh lính, thủy thủ, thương nhân và chính tác giả Lu-ca.
Chúng ta không biết nhiều về đội quân Âu gu ta (the Augustan Regiment) do thầy đội Giu lơ điều khiển, nhưng việc các binh sĩ La Mã hộ tống việc vận chuyển tội phạm, những người đang chờ xét xử, cũng như các tàu buôn chở đầy ngũ cốc từ Ai Cập về Rome là một thông lệ phổ biến. Trong câu đầu tiên, Luca còn giới thiệu tên một người đi cùng với họ là A ri tạt, người ở Ma xê đoan, thành Tê sa lô ni ca, vì thế trong suốt đoạn 27, Luca vẫn dùng hai chữ "chúng ta"
*** Hành trình từ Sê sa rê đến Fair Havens (Mỹ cảng) câu 3 - 8
" Đến ngày sau, chúng ta tới thành Si-đôn, thì Giu-lơ đãi Phao-lô cách nhân từ, cho phép người đi thăm bạn hữu mình, và được họ lo việc mình. 4 Đoạn, từ nơi đó, chúng ta theo mé bờ đảo Chíp-rơ, vì bấy giờ ngược gió. 5 Sau khi vượt qua biển Si-li-si và Bam-phi-ly, thì chúng ta đến thành My-ra, trong xứ Ly-si. 6 Ở đó, thầy đội thấy có một chiếc tàu ở A-léc-xan-tri sẽ đi qua Y-ta-li, bèn cho chúng ta xuống tàu đó. 7 Tàu chạy chậm lắm, mất nhiều ngày khó nhọc mới tới ngang thành Cơ-nít. Vì gió quá, tàu không thể ghé bến được, nên chúng ta lại theo mé bờ đảo Cơ-rết, qua Sa-môn. 8 Khi đã chịu khó đi dọc theo nơi đó, chúng ta mới đến một nơi gọi là Mỹ-Cảng, gần thành La-sê."
Khi tàu ghé bến ở Si đôn, Thầy đội Giu lơ đã đối xử tử tế với Phao-lô, cho phép ông được tự do đi gặp các cơ đốc nhân ở đó, để nhận sự chăm sóc của họ. Viên chỉ huy người La Mã nầy đã dành cho Phao lô sự tự do, bởi lẽ ông chưa phải là một kẻ bị phán tội, mà vẫn đang chờ được xét xử trước mặt Hoàng đế Caesar, khác với những tù nhân đang bị giải về La mã để bị xử tử. Phẩm cách tin kính của Phao-lô, cùng với cách ông bày tỏ tình yêu thương Cơ Đốc, cũng góp phần giúp ông nhận được sự ưu ái này.
Sau đó, khi thầy đội Giu lơ và quân lính dẫn tội phạm của ông tới My ra thì phải đổi qua tàu khác để hướng về Rome. Giu lơ thấy có một con tàu từ Alexandria đang hướng về Ý: Đây là một tàu chở ngũ cốc, chuyên vận chuyển lương thực được trồng tại Ai Cập sang Ý. Theo học giả Hughes, một con tàu chở ngũ cốc điển hình vào thời kỳ đó thường có chiều dài khoảng 140 feet (khoảng 42,7 mét) và chiều rộng 36 feet (khoảng 11 mét). Tàu chỉ có một cột buồm với một cánh buồm vuông lớn; thay vì sử dụng bánh lái như cách hiểu thông thường của chúng ta ngày nay, con tàu này được điều khiển bằng hai mái chèo lớn gắn ở phần đuôi tàu. Những con tàu này tuy rất chắc chắn, nhưng do đặc thù về thiết kế, chúng không thể di chuyển ngược chiều gió.
Vì là mùa gió ngược, nên con tàu chạy bườm đó chạy rất vất vả, mất nhiều thời gian mới tới Fair Havens (Mỹ cảng) nằm ở phía nam đảo Crete, đến đây, chỉ mới được gần nửa đoạn đường.
*** Phao lô khuyên đội lái tàu nên ở lại trên đảo chờ qua cơn bão, nhưng họ không nghe -câu 9 - 12
" Trải lâu ngày, tàu chạy phải nguy hiểm (vì kỳ Kiêng ăn đã qua rồi). Phao-lô bảo trước cho những người trong tàu, 10 rằng: Tôi thấy sự vượt biển nầy chắc sẽ phải nguy hiểm và hư hại, chẳng những cho hàng hóa và chiếc tàu mà thôi, lại đến thân chúng ta nữa. 11 Nhưng thầy đội tin lời người lái tàu và chủ tàu hơn là lời Phao-lô nói. 12 Vì cảng đó không tiện cho tàu đậu lúc mùa đông, nên phần nhiều người đều bàn rằng phải lìa khỏi đó và ráng sức đến cảng Phê-nít, là cảng của đảo Cơ-rết, hướng phía tây nam và phía tây bắc, đặng qua mùa đông ở đó."
Phao lô góp ý là thời tiết lúc nầy đi rất nguy hiểm vì kỳ chay đã qua, tức sau ngày 5 tháng 10 (ngày Lễ Chuộc Tội), mùa đông đang đến gần, thời tiết trở nên nguy hiểm hơn đối với việc đi biển. Đối với kinh nghiệm đi biển thời đó, mùa nguy hiểm bắt đầu vào khoảng ngày 14 tháng 9 và kéo dài đến ngày 11 tháng 11, sau ngày này, mọi hoạt động hàng hải trên biển khơi đều chấm dứt cho đến khi mùa đông qua đi.
Phao-lô khuyên họ rằng: “Thưa các ông, tôi nhận thấy chuyến đi này sẽ kết thúc bằng tai họa và tổn thất nặng nề, không chỉ mất hàng hóa và tàu thuyền, mà còn mất cả mạng sống của chúng ta”.
Tại đây, Phao-lô không nhất thiết nói với tư cách là một tiên tri của Đức Chúa Trời, mà có lẽ là với tư cách của một lữ khách dày dạn kinh nghiệm trên vùng Địa Trung Hải, người vốn đã đi được khoảng 3.500 dặm đường biển. Nhờ am hiểu về các mùa và điều kiện thời tiết, và có lẽ còn nhờ cả sự nhạy cảm siêu nhiên, Phao-lô đã khuyên họ không nên tiếp tục hành trình.
Trong II Cô rinh tô 11: 25 Phao lô nói ông
" ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị chìm tàu. Tôi đã ở trong biển sâu một ngày một đêm."
cho thấy Phao lô đã có nhiều kinh nghiệm đi đường tàu, nên có lời khuyên như thế. Nhưng cả thầy đội và đoàn thuỷ thủ đều không muốn nghe lời Phao lô. Đội trưởng tin lời người lái tàu và chủ tàu hơn là những điều Phao-lô đã nói. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên, vì thầy đội đang chịu trách nhiệm nặng nề là phải giải tù nhân trọng án về Rô ma, còn chủ tàu phải nghĩ đến hàng hoá của ông cần đến nơi kịp lúc.
Thêm vào đó, bến cảng có cái tên mỹ miều là Fair Havens (Mỹ cảng) lại không xứng với thực trạng. Vị trí của nó khiến nó luôn bị tổn hại trước những cơn gió và bão tố của mùa đông. Đó không phải là một nơi lý tưởng để tàu đậu chờ cho mùa đông đi qua. Thủy thủ đoàn của con tàu cũng chẳng hề mong đợi phải trải qua nhiều tháng tại một thị trấn nhỏ bé như vậy. Một nhà bình luận cho rằng, vì để quảng cáo mà chính phòng Thương mại địa phương đã đặt tên cho nơi này là “Fair Havens”.
Đa số ý kiến đều khuyên nên khởi hành từ chính nơi đó: Sau khi lấy ý kiến của thủy thủ đoàn, họ quyết định tiếp tục căng buồm hướng về bến cảng Phoenix. Cảng Phoenix nằm ngay trên cùng hòn đảo Crete và chỉ cách đó chừng 40 dặm. Đối với họ, việc tìm cách đến được Phoenix để tránh khỏi một mùa đông khốn khổ tại Fair Havens dường như chẳng phải là một ý tưởng điên rồ chút nào.
Do vậy, mọi người đã không thực sự coi trọng lời khuyên của Phao-lô, một lời khuyên mà sau này đã được chứng minh là mang tính tiên tri, chuyến hải trình đã kết thúc bằng thảm họa và gây ra nhiều tổn thất nặng nề. Lẽ ra họ nên nghe theo lời Phao-lô; và sau này, chính ông cũng đã nhắc lại điều đó với họ.
*** Chuyến đi khó khăn trong bảo tố từ Mỹ cảng đến Malta câu 13 -19
" Vừa có gió nam non bắt đầu thổi, họ tưởng rằng có thể tới nơi mình đã định, thì kéo neo mà đi dọc theo gần đảo Cơ-rết. 14 Nhưng cách ít lâu có trận gió dữ tợn gọi là gió Ơ-ra-qui-lôn thổi lên vật vào đảo. 15 Tàu đã phải bạt đi, chống lại gió chẳng nổi, nên chúng ta để mặc cho theo chiều gió. 16 Tàu bị bạt đến dưới một hòn đảo nhỏ kia gọi là Cơ-lô-đa, chúng ta khó nhọc lắm mới cầm được chiếc thuyền. 17 Sau khi trục lên, họ dùng phương thế làm cho chắc chắn: lấy dây ràng phía dưới chiếc tàu lại; đoạn lại sợ mắc cạn trên bãi Si-rơ-tơ, thì hạ buồm xuống, để mặc gió đưa trôi đi. 18 Đến ngày mai, vì bão cứ thổi cũng mạnh như vậy luôn, họ bèn quăng hàng hóa xuống biển. 19 Ngày thứ ba, chúng ta dùng chính tay mình quăng đồ đạc trong tàu xuống biển. 20 Trong mấy ngày mặt trời chẳng có, ngôi sao cũng không, mà bão thì vẫn thổi ào ào luôn, đến nỗi chúng ta chẳng còn trông cậy được cứu nữa."
Vì tàu chạy bằng bườm nên khi có gió nam thổi nhẹ, nó chạy êm thắm, mọi người tưởng họ sẽ đến đảo Crete an toàn như dự định, nhưng gió lại đổi hướng và trở nên dữ tợn, dân đi biển gọi nó là Euroclydon, ngọn gió này từng gieo rắc nỗi khiếp sợ cho các thủy thủ thời xưa bởi sức tàn phá khủng khiếp của nó. Vì hoàn toàn bất lực trong việc điều khiển tàu khi phải đương đầu với bão tố, tất cả những gì thuỷ thủ đoàn có thể làm, là phó mặc cho con tàu trôi dạt trên biển. Lúc đó, Lu ca cũng góp sức với mọi người để kéo con thuyền nhỏ là thuyền được dùng để cấp cứu khi tàu chìm, trước nó được kéo theo sau tàu lớn, nhưng vì bão quá mạnh, nên phải kéo nó lên tàu.
Khi tới một đảo nhỏ, mọi người giúp giữ chiếc tàu bằng cách dùng dây cáp để gia cố thân tàu. Đây là một biện pháp khẩn cấp thông thường, giúp ngăn con tàu bị vỡ tan giữa cơn bão. Họ hạ buồm và cứ thế bị gió cuốn đi, họ phải thuận theo chiều gió và từ bỏ hy vọng điều khiển con tàu giữa cơn bão. Để làm con tàu được nhẹ đi, cứu lấy mạng sống của mình, mọi người quyết định quăng bỏ hàng hoá trước, ngày hôm sau, quăng luôn đồ đạc, bão vẫn không dừng lại, ngày không thấy mặt trời, đêm không có trăng sao, tất cả đều tối tăm, giữa biển khơi mênh mông, họ chỉ có thể định hướng nhờ vào mặt trời hoặc các vì sao, những ngày dài lênh đênh giữa cơn bão tố như thế, đã đẩy toàn bộ thủy thủ đoàn vào bước đường tuyệt vọng. Cơn đại hồng thủy dữ dội ấy đã cuốn trôi họ về phía tây một cách mù mịt trên khắp vùng Địa Trung Hải.
*** Phao lô trấn an mọi người, câu 21 - 26
" Vì họ không ăn đã lâu, nên Phao-lô đứng dậy giữa đám họ, mà nói rằng: Hỡi bạn hữu ta, chớ chi bữa trước tin lời ta mà chẳng dời khỏi đảo Cơ-rết, thì chúng ta đã chẳng mắc cơn nguy hiểm và tổn hại nầy. 22 nhưng bây giờ, ta khuyên các ngươi hãy vững lòng; trong các ngươi chẳng mất ai hết, chỉ mất chiếc tàu mà thôi. 23 Vì đêm nay, một thiên sứ của Đức Chúa Trời, là Đấng ta thuộc về và hầu việc, có hiện đến cùng ta mà phán rằng: 24 Hỡi Phao-lô, đừng sợ chi hết; ngươi phải ứng hầu trước mặt Sê-sa; và nầy, Đức Chúa Trời đã ban cho ngươi hết thảy những kẻ cùng đi biển với ngươi. 25 Vậy, hỡi các ông, hãy vững lòng, vì ta có lòng tin cậy Đức Chúa Trời rằng sẽ xảy ra như lời Ngài đã phán vậy; 26 nhưng chúng ta chắc sẽ bị tấp lên một hòn đảo nào. "
Sau một thời gian dài không ăn uống:
Có lẽ mọi người quá lo sợ và mệt mõi vì say sóng nên không ăn uống, Phao lô trấn an mọi người bằng cách kể ra khải tượng mà Chúa tỏ ra cho ông, để mọi người được bình an.
Phao lô khuyên mọi người hãy vững lòng, ăn uống để lấy lại sức khoẻ mà chống chọi lại cơn bão. Khi thuật lại những gì Chúa tỏ ra cho ông, Phao-lô hy vọng sẽ mang lại niềm hy vọng cho những hành khách và thủy thủ đoàn. Mục đích của ông không chỉ đơn thuần là để nói với họ rằng ông đã đúng, mà còn là để mang đến cho họ một tin mừng.
Phao lô nói, sẽ không có ai trong các ông bị mất mạng, ngoại trừ con tàu. Đây là một thông điệp hơi kỳ lạ, mọi người đang trên tàu nhưng có lời hứa rằng sẽ không có ai mất mạng, nhưng con tàu lại không còn. Đồng thời, phải nghe rằng chuyến hải trình này sẽ là một sự thất thoát tài chính hoàn toàn, đối với chủ tàu và đoàn thuỷ thủ quả là một tin chẳng lành.
Phao lô kể lại, "Đêm nay, một thiên sứ đã đứng bên tôi" Đức Chúa Trời đã sai một thiên sứ đến với Phao-lô để mang lại tin lành đầy khích lệ, vào lúc mà mọi sự dường như vô vọng. Đây không phải là sự hiện ra trực tiếp của Chúa Giê-xu như đoạn trước, mà là sự hiện ra của một thiên sứ. Lời của Đức Chúa Trời đã đến với Phao-lô theo những cách khác nhau vào những thời điểm khác nhau. Phao lô diễn tả Thiên sứ đến với ông trong lúc nguy nan cách rất tự nhiên, giống như một người đang hầu việc cho chủ, khi gặp khó khăn, thì chủ đến và giúp đỡ.
Câu chuyện của Phao lô cho thấy không phải ai đang phục vụ Chúa cũng luôn gặp suông sẽ. Tuy nhiên, điều đó thực sự có nghĩa là ánh mắt canh giữ và sự chăm sóc đầy tích cực của Đức Chúa Trời vẫn luôn hiện diện, ngay cả giữa những tai họa tột cùng như thế. Đó là về phần Phao lô, nhưng Phao lô nói với mọi người:
" Hỡi Phao-lô, đừng sợ chi hết; ngươi phải ứng hầu trước mặt Sê-sa; và nầy, Đức Chúa Trời đã ban cho ngươi hết thảy những kẻ cùng đi biển với ngươi."
Điều này ngụ ý rằng Phao-lô đã cầu xin Đức Chúa Trời để bảo đảm sự an toàn cho tất cả mọi người trên con tàu. Ông vốn đã nhận được lời hứa về sự an toàn cho chính bản thân mình, nhưng đối với Phao-lô, chừng đó vẫn chưa đủ. Ông đã kiên trì cầu nguyện cách tha thiết để xin sự an toàn và phước hạnh cho những người đang ở cùng mình, bao gồm cả những người đã tin và những người chưa tin. Phao-lô đã quan tâm và yêu thương họ; ông đã không ngừng cầu nguyện cho họ cho đến khi Đức Chúa Trời nhậm lời và ban cho vị sứ đồ này sự an toàn cho tất cả những người ấy.
Phao lô muốn nói, các anh em có lý do để vững lòng, Đức Chúa Trời đã ban cho tôi sự bảo đảm về sự an toàn của các anh em, và tôi tin Đức Chúa Trời sẽ làm điều đó. Lời nói đầy sự tin cậy của Phao-lô gửi đến những con người đang hoang mang trên con tàu chao đảo giữa bão tố, đã diễn tả trọn vẹn bản chất của việc đặt đức tin nơi Đức Chúa Trời và Lời của Ngài. Phao lô nói rằng Đức Chúa Trời đã phán điều đó qua tôi, tôi tin Đức Chúa Trời và tôi ao ước các bạn cũng tin như tôi nữa.
Khi không còn thứ gì khác để tin, Phao lô kêu gọi mọi người hãy tin vào Đức Chúa Trời, đây không phải là một đức tin chỉ vững vàng khi trời yên biển lặng, Phao lô đã tin cậy Đức Chúa Trời ngay giữa trung tâm ngày bão, khi hoàn cảnh đang tồi tệ nhất.
Thật tốt đẹp thay, lời kêu gọi của Phao lô được mọi người chú ý và hưởng ứng, lúc họ tuyệt vọng, họ được nghe đến Đức Chúa Trời của Phao lô mà họ tin, thì Kinh thánh trong Giăng 20: 29 chép rằng:
'Đức Chúa Jêsus phán: Vì ngươi đã thấy ta, nên ngươi tin. Phước cho những kẻ chẳng từng thấy mà đã tin vậy!"