Công vụ 21: " Phao Lô bị hành hung trong đền thờ "

**Dân Tộc Việt **Các Phương Tiện zoom

" Tôi v́ đạo ấy làm sứ giả ở trong ṿng xiềng xích, hầu cho tôi nói cách dạn dĩ như tôi phải nói." Ê phê sô 6: 20

Công vụ 21: "Phao Lô bị hành hung trong đền thờ "

 

Đọc Công vụ 21: 26 -40

 

Câu hỏi:

1/ Vì sao dân Giu đa không tin Chúa và cả dân Giu đa tin Chúa đều chống đối Phao lô?
Họ phao tin gì để mọi người nổi giận với Phao lô?

 

2/ Vì sao Phao lô may mắn được lính La mã cứu kịp thời?
Họ có quan tâm gì đến công tác của Phao lô không?

 

3/ Phao lô có thực sự muốn né tránh đám đông không?
Dù bị thương, bị vu khống, nhưng ông vẫn đang cố gắng làm gì?


 "Phao Lô bị hành hung trong đền thờ Giê ru sa lem"

 

*** Phao lô cùng bốn người Giu đa lên đền thờ làm lễ tinh sạch: câu 26

" Phao-lô bèn đem bốn người cùng đi, vừa đến ngày sau, làm lễ tinh sạch cùng họ, rồi vào trong đền thờ, đặng tỏ ra ngày nào kỳ tinh sạch sẽ trọn, và dâng của lễ về mỗi người trong bọn mình."

 

  Để giải toả sự hiểu lầm của người Giu đa tin nhận Chúa Giê su rằng:" Phao lô đã dạy người Giu đa lẫn người ngoại phải bỏ luật Môi se."

Các bậc lãnh đạo ở Hội Thánh Giê ru sa lem khuyên Phao lô nên dẫn bốn người Giu đa đã thề nguyện Na xi rê như mình, cùng nhau lên đền thờ làm lễ tinh sạch, và Phao lô phải trả tiền cạo đầu cho họ. Phao lô đồng ý vì mặc dù ông biết đối với người Giu đa, có hay không có giữ luật Môi se thì không ảnh hưởng gì đến sự cứu rỗi, nhưng để người Giu đa được dễ chấp nhận đạo Chúa hơn, Phao lô đồng ý với lời đề nghị.

 

*** Phao lô bị người Giu đa xúi đoàn dân làm loạn: câu 27 -30

" Khi bảy ngày gần trọn, thì các người Giu-đa, quê A-si, thấy Phao-lô trong đền thờ, bèn xui cả đoàn dân dấy loạn, rồi bắt người, 28 mà kêu lên rằng: Hỡi các người Y-sơ-ra-ên, hãy đến giúp với! Kìa, người nầy giảng dạy khắp thiên hạ, nghịch cùng dân, nghịch cùng luật pháp, và nghịch cùng chốn này nữa, đến đỗi hắn dẫn người Gờ-réc vào trong đền thờ, và làm cho nơi thánh nầy bị ô uế. 29 Số là, chúng trước đã thấy Trô-phim, người Ê-phê-sô, ở với Phao-lô tại trong thành phố, nên ngờ rằng Phao-lô đã dẫn người vào đền thờ. 30 Cả thành đều xôn xao, dân chúng chạy nhóm lại đoàn đông, bắt Phao-lô, kéo ra khỏi đền thờ, tức thì các cửa đều đóng lại. "

 

** Những người Giu đa ở Tiểu Á:

  Đây là những người Giu đa từng chống đối Phao lô ở Tiểu Á, trong những ngày nầy, có rất đông người đến Giê ru sa lem, vì là ngày lễ Ngũ tuần. Khi nhìn thấy Phao lô trong Đền Thờ, họ đã kích động toàn thể đám đông, cáo buộc rằng Phao-lô chống lại dân tộc , chống luật pháp Môi se và Đền Thờ. Những lời cáo buộc trên hoàn toàn vô căn cứ, Phao-lô chỉ đơn thuần bác bỏ việc đặt niềm tin vào việc làm, người Giu đa không nên dùng việc tuân thủ luật pháp của mình, như là nền tảng để đạt được sự công chính, sự cứu rỗi, trước mặt Đức Chúa Trời. Sự công chính nầy vốn chỉ đến bằng một con đường duy nhất là qua Chúa Giê-xu Christ.


 Ngày xưa, chính Phao lô và toà công luận cũng đã cáo buộc Chấp sự Ê tiên theo cách đó để xử tử Ê tiên, hôm nay, Phao lô bị dân Giu đa dùng y hệt những lời đó để đòi giết Phao lô.


Cả thành phố đều náo động, dân chúng cùng nhau chạy ùa đến, đám đông trở nên đông đảo hơn vì lúc đó đang là dịp lễ hội. Họ bị kích động nên phẫn nộ bộc phát, bởi họ tin rằng Phao-lô không chỉ rao giảng chống lại dân tộc, luật pháp, mà bây giờ còn xúc phạm đến sự thánh khiết của Đền Thờ khi tưởng Phao-lô dẫn những người Ngoại vào các sân trong của nơi này (họ nói rằng: "hắn dẫn người Gờ-réc vào trong đền thờ, và làm cho nơi thánh nầy bị ô uế").
Trong thành Giê ru sa lem, có những khu vực mà người ngoại không thể bước vào, những người không phải là người Do Thái bị nghiêm cấm đi vào các sân trong của Đền thờ, xung quanh khu vực đó, lúc nào cũng có bảng cấm, người ngoại vượt qua ranh giới Soreq (một bức tường ngăn cách), sẽ bị một hình phạt rất nặng là tử hình.

    Các biển báo với nội dung viết bằng cả tiếng Hy Lạp và tiếng La Mã như sau: “Không một người ngoại bang nào được phép bước qua hàng rào bao quanh Đền thờ và khu vực thánh. Bất cứ ai bị bắt gặp xâm phạm quy định này sẽ phải tự chịu hoàn toàn trách nhiệm về cái chết của chính mình sau đó.”
Chính quyền La Mã đặc biệt không muốn can thiệp vào tín ngưỡng của người Do Thái trong quy định nầy, đến mức họ đã trao quyền cho người Do Thái được phép xử tử bất cứ ai phạm lỗi theo cách đó, ngay cả khi kẻ phạm lỗi là một công dân La Mã.


 Giê ru sa lem ngày nay không có khu vực nào cụ thể cấm người ngoại; tuy nhiên, việc tiếp cận Temple Mount, hay còn gọi là Haram al-Sharif, vẫn bị hạn chế và chịu sự quản lý của các cơ quan Waqf Hồi giáo.


Đoàn dân chỉ nghe rĩ tai rằng Phao lô dẫn một người tên Trô-phim, người Ê-phê-sô vào đền thờ, vì có người đã thấy hắn đã ở cùng với Phao-lô tại trong thành phố. Chúng hiệp nhau đóng hết các cửa để bọn người của Phao lô không thể thoát thân, họ muốn giết hết ngay tại chỗ.

*** Lính La mã cứu Phao lô khỏi đoàn dân: câu 31 - 36


" Chúng đang tìm phương giết người, thì tiếng đồn đến quan quản cơ rằng cả thành Giê-ru-sa-lem đều xôn xao. 32 Người lập tức bắt quân lính và cai đội kéo đến nơi chúng. Vừa thấy quản cơ và quân lính thì chúng thôi không đánh Phao-lô nữa. 33 Quản cơ bèn tới gần, bắt người rồi truyền lấy hai cái xích xích lại; đoạn, hỏi người là ai, và đã làm việc gì. 34 Trong đoàn dân, kẻ reo lên thể nầy, người la lên thể khác; nhân sự rối loạn, người không biết được chắc, nên dạy điệu về đồn. 35 Lúc Phao-lô bước lên thềm, quân lính phải khiêng người đi, bởi cớ đoàn dân hung bạo lắm. 36 Vì có đám dân theo sau đông mà kêu rằng: Hãy giết đi!"

Giữa lúc đám đông đang tìm cách sát hại Phao-lô, họ đã bắt giữ ông, lôi ra sân ngoài đánh đập Phao lô rất dữ, tiếng la hét của họ vang rền, thấu đến tai của các lính La mã đang đồn trú ngay sát bên Đền thờ.


  Chính quyền La mã thừa biết Giê ru sa lem là một cấm thành nhạy cảm của Do thái, họ không được vào, nhưng họ đóng trại sát bên.

Từ Tháp Antonia nằm ở góc tây bắc khu vực Đền Thờ, có hơn 500 lính La Mã lúc nào cũng có mặt, bố trí đóng quân chỉ cách Sân ngoài cho dân Ngoại vỏn vẹn hai tầng bậc thang. Họ nghe la lối, náo loạn, nên viên chỉ huy cùng binh lính tiến vào xem sự thể ra sao, khi thấy viên chỉ huy, đám đông ngưng đánh đập Phao lô, viên chỉ huy ra lệnh còng Phao lô lại để dẫn về đồn.

 Quân La Mã không hề có thiện cảm gì với Phao-lô, nhưng họ chỉ quan tâm đến việc duy trì trật tự công cộng, vì thế, họ đã bắt giữ Phao-lô, vừa để bảo vệ chính ông, vừa để loại bỏ nguyên nhân gây ra cuộc náo loạn này.
Phao lô bị xiềng bằng hai sợi xích, mỗi bên bị còng với một người lính ở mỗi bên, sự kiện nầy xảy ra đúng như lời tiên tri của A-ga-bút đã nói với ông trong đoạn trước, dù lính La mã đến can thiệp, nhưng đoàn dân cố tình muốn giết, khiến lính La mã phải khiêng Phao lô để tránh đám đông hung dữ đòi lấy mạng Phao lô ngay khi đó.

*** Phao lô nói chuyện với quan chỉ huy lính La mã: câu 37 - 40

" Lúc Phao-lô vào đồn, thì nói với quản cơ rằng: Tôi có phép nói với ông đôi điều chăng? Quản cơ trả lời rằng: Ngươi biết nói tiếng Gờ-réc sao? 38 Vậy thì ngươi hẳn chẳng phải là người Ê-díp-tô kia, ngày trước đã gây loạn, kéo bốn ngàn kẻ cướp vào nơi đồng vắng hay sao? 39 Phao-lô trả lời rằng: Tôi là người Giu-đa, vốn ở thành Tạt-sơ, công dân của một thành trong xứ Si-li-si tức là thành có danh tiếng; xin hãy cho phép tôi nói với chúng dân. 40 Được phép rồi, Phao-lô đứng trên thềm, giơ tay ra dấu cho dân. Đâu đó yên lặng, người bèn nói tiếng Hê-bơ-rơ rằng:"

 Khi Phao lô vào đồn, ông nói với quản cơ bằng tiếng Hy lạp, ban đầu, viên chỉ huy La Mã tưởng Phao-lô là một kẻ khủng bố, giống như trong quá khứ đã có một người Ai Cập từng dẫn đầu một đạo quân ô hợp gồm bốn ngàn người kéo đến Núi Ô-liu, họ tuyên bố sẽ chiếm đoạt Đền Thờ Giê ru sa lem, Quân lính La Mã đã nhanh chóng đánh tan đạo quân ấy, nhưng tên thủ lĩnh thì đã trốn thoát được, nay nghe dân chúng náo loạn thì tưởng người đó trở lại. Bây giờ quản cơ rất ngạc nhiên khi nhận ra Phao-lô là một người có học thức và có thể nói được tiếng Hy Lạp, Phao lô tự giới thiệu: " Tôi là người Do Thái, quê ở Tarsus thuộc xứ Cilicia, là công dân của một thành phố có tiếng..."

  Lúc bấy giờ quản cơ La mã biết Phao lô là người quê ở Tarsus, chứ không phải là một kẻ khủng bố đang bị tình nghi.
Đang khi tính mạng Phao lô đang bị đe dọa bởi một đám đông, ông bị đánh đến nỗi không chạy được, bản thân lại bị tình nghi là một tội phạm nguy hiểm, thì trong tâm trí Phao-lô lại chỉ có duy nhất một điều: " Xin hãy cho phép tôi nói với chúng dân" Phao lô muốn nói gì trong khi đoàn dân đang còn la ó đòi mạng ông, quả thật, sau khi được phép của quản cơ, Phao lô đổi qua dùng tiếng Hê bơ rơ để giảng Tin lành cho những kẻ muốn giết ông đang đứng dưới kia được nghe.

Phao lô đã gây sự chú ý của đoàn dân, khi ông dùng tiếng Hê bơ rơ để nói chuyện cùng họ, ông dùng chính đời sống của ông để làm chứng cho bọn họ, thể nào mà Chúa đã chinh phục ông trên con đường đến Đa mách để dùng ông rao giảng cho người ngoại. Chúng ta sẽ được thấy phản ứng của người Giu đa sau khi nghe bài làm chứng của Phao lô trrong kỳ tới.

Đọc thêm:

Vào thời của Phao lô, có bốn thứ tiếng được dùng trong xứ Do Thái: Tiếng Aramaic, Greek, Hebrew, và Latin

Tiếng Aramaic: 


Một ngôn ngữ cổ xưa cả ngàn năm trước, được dùng trong các dân tộc vùng tây bắc Y sơ ra ên như Assyrian, Babylonian, và Persian.
Đối với Kinh thánh, tiếng A ram có sự gần gủi với tiếng Hê bơ rơ, Kinh Talmud, Zoha và một phần của Kinh thánh của Do thái cũng được viết bằng chữ A ram. Chúa Giê su cũng nói chuyện với các môn đồ ở Ga li lê và Giu đê bằng tiếng A ram. Xin tham khảo TL

Tiếng Greek:
  Tiếng Hy Lạp (Koine): Ngôn ngữ chung của Đế chế La Mã phương Đông, được sử dụng trong thương mại,và dường như đã được Chúa Giê-su dùng đến để giao tiếp với những cư dân hoặc quan chức không phải người Do Thái. Đây cũng là thứ tiếng Phao lô thường dùng khi rao giảng Tin lành cho người ngoại.

Tiếng Hebrew:
Ngôn ngữ được dùng trong các công việc liên quan đến Đền thờ và hội đường, được sử dụng để đọc Kinh Thánh và tranh luận học thuật giữa các nhà lãnh đạo tôn giáo. Cho nên khi Phao lô dùng tiếng Hê bơ rơ để rao giảng thì chúng dân suy nghĩ, đây là một người Do Thái chính gốc, và cũng là người có học thức nơi chính đền thờ. Phần lớn Kinh thánh cựu ước được viết bằng tiếng Hê bơ rơ.

Tiếng Latin:
Ngôn ngữ của quân đội và các quan chức chính quyền La Mã, được sử dụng trong các vấn đề pháp lý, trong văn kiện, mặc dù hiếm gặp trong tầng lớp dân bình thường.